Loading ...
.:: Sân Khấu Việt Nam ::.
Đang tải ...



         

Nhà thơ Nguyễn Bính với vở chèo "Cô Son"

18/12/2013 9:43:44 SA

Ngày 7/12/2013, tại TP Nam Định, UBND tỉnh, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh đã tổ chức lễ kỷ niệm 95 năm sinh nhà thơ Nguyễn Bính (1918 - 2013).

Trân trọng tài năng và những đóng góp của nhà thơ Nguyễn Bính đối với nền văn học nghệ thuật dân tộc, NSND Lê Tiến Thọ - Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam đã có bài viết: Nhà thơ Nguyễn Bính với vở Chèo “Cô Son” in Trên tạp chí Văn nhân (Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định) tháng 10 - 12/2013.

Nam Định là mảnh đất “địa linh, nhân kiệt”, giàu truyền thống văn hiến với nhiều nhà khoa bảng, danh nhân văn hóa làm rạng danh non sông đất nước. Đất Thành Nam ấy có một nhà thơ tài hoa từng rong ruổi bước chân khắp miền quê từ Bắc vào Nam đã góp phần làm sáng lên cốt cách, tâm hồn của đất văn, đất học, đó chính là nhà thơ Nguyễn Bính. Nguyễn Bính đã có nhiều thành công lớn với những tác phẩm thi ca đậm hồn dân tộc, nhưng ít ai biết rằng Nguyễn Bính đã sáng tác một số vở Chèo và nổi bật nhất là vở Chèo “Cô Son” - ông sáng tác vào năm 1961. Với những đóng góp của Nguyễn Bính cho nền Văn học Nghệ thuật dân tộc. Ông đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, năm 2000.

Nói về Nguyễn Bính là nói về một tâm hồn gắn bó với làng quê Việt Nam. Các tác phẩm của ông thường biểu hiện cảnh quê, thắm đượm tình quê, hồn quê nước Việt với một sắc thái lãng mạn, mang những nét dung dị, đằm thắm, thiết tha, đậm sắc hồn dân tộc. Cái tình trong thơ, trong kịch, trong Nghệ thuật Chèo của Nguyễn Bính luôn mặn mà, mộc mạc, sâu sắc và tế nhị hợp với phong cách, tâm hồn của người Á Đông. Vì vậy đã chiếm lĩnh được cảm tình của nhiều người từ thành thị đến nông thôn. Một đời đoạn trường, ngủ đình lưu lạc, một đời khát khao tình yêu và hạnh phúc, Nguyễn Bính đã nhập với hồn quê, để viết lại đời sống quê hương và dân tộc mình, bằng một giọng chân quê để chở biết bao số phận con người gắn với biến thiên lịch sử.

Nguyễn Bính không chỉ tài hoa ở lĩnh vực thi ca, mà ông cũng rất yêu nghệ thuật Chèo, hiểu nghệ thuật Chèo, vì ông sinh ra trên mảnh đất cái “nôi Chèo”. Bởi vậy, trong thơ ông cho ta thấy hình ảnh:

“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ
Mẹ bảo: thôn Đoài hát tối nay”

Là một sĩ phu yêu nước nên tâm hồn Nguyễn Bính luôn đau đáu với quê hương đất nước. Vì lẽ đó, mối tình đầu tiên và chân thật nhất của Nguyễn Bính là quê hương đất nước. Nguyễn Bính lấy cảnh quê làm nền để vẽ bi kịch của con người khuất sau, mà luôn là bi kịch của người phụ nữ bị bỏ rơi, bị phản bội, bi kịch của người bạc mệnh. Trăn trở day dứt đầy vơi ấy đã được thể hiện rõ nét trong vở Chèo cổ “Cô Son”.

Trong đám hội làng, cô Son đã gặp và hẹn ước với Khóa Hồng. Nhưng duyên ước không thành vì cô Son đã bị đưa vào cung Vua làm tỳ thiếp. 15 năm trong cung cấm, cô chưa một lần được nhà Vua đoái hoài. Rồi trong một lần, Vua cho vời cô lên cho gặp. Tên Thái giám xuống và yêu cầu cô phải bịt mắt bằng dải lụa đen vì đó là luật của nhà Vua đối với các tỳ thiếp. Trong cung cấm, nhà Vua buông lời âu yếm với cô Son, nhưng cô đã quyết tâm bỏ dải băng ra để nhìn được mặt rồng. Vì thế, nhà Vua nổi giận đã đuổi cô ra khỏi phòng và khép vào tội khi quân phải chịu voi giày ngựa xé. Nhưng cô Son đã được cận thần xin tha cho tội chết. Nhưng bị tước hết bổng lộc và bị đuổi về quê. Thoát được cảnh “cá chậu, chim lồng”, cô Son xúc động gặp lại cha già sau 15 năm xa cách. Lúc đó, Khóa Hồng cũng đỗ đạt làm quan và quay trở về cưới cô Son. Nhưng theo phép vua, các tỳ nữ bị đuổi về quê sẽ không được phép lấy chồng làm quan, mà phải lấy dân thường. Quyết tâm lấy được cô Son, Khóa Hồng đã cởi bỏ mũ áo quan triều, bỏ bằng sắc vua ban để trở thành dân thường, mong trọn tình với người năm cũ. Việc bỏ áo từ quan của Khóa Hồng lại phạm vào luật Vua. Vì thế,     Khóa Hồng lại bị đi đày một thời gian mới mong lấy được Cô Son. Thông qua bi kịch của cô Son Nguyễn Bính đã khái quát lên tiếng kêu xé lòng của người phụ nữ xưa không có quyền định đoạt cuộc đời, phó thác số phận của mình trong cung cấm cô đơn suốt bao nhiêu năm tủi phận. Nhưng con giun xéo lắm cũng quằn, cô Son đã có ý thức phản kháng lại những luật lệ triều đình với một quyết tâm mãnh liệt khi dứt tung khăn bịt mắt đòi xem “mặt rồng mặt rắn ra sao” dù biết rằng việc làm ấy là mắc tội “khi quân”. Sự phản ứng thức tỉnh đó chính là khát vọng được tự do, được hưởng hạnh phúc yêu thương của người phụ nữ trong xã hội phong kiến bất chấp cường quyền phong tỏa.
Cái tài và cũng là tấm lòng đồng cảm của Nguyễn Bính trong vở chèo “Cô Son” chính là cách xây dựng nhân vật, đặc biệt là 2 nhân vật chính là cô Son và Khóa Hồng. Hành động nhìn mặt vua của cô Son đã thể hiện sự phản ứng trỗi dậy mạnh mẽ của con người bất chấp cường quyền bạo lực. Dẫu biết phạm luật triều đình vì dám nhìn mặt vua, nhưng nỗi tủi cực trong ê chề bao năm quạnh quẽ trong cung cấm vùi tuổi thanh xuân đã giúp cô có một nội lực kiên cường bứt phá để thấu tỏ mọi bề, dứt khoát phải nhìn được mặt Vua.

Bi kịch trái ngang của người phụ nữ dưới triều vua Minh Mệnh đã được đẩy lên cao trào với những màn hát ả đào, với những bài ngâm ai oán đau đáu nỗi nhớ quê hương, ngậm ngùi cho phận liễu bồ dang dở tình cầm sắt. Hình tượng nhân vật cô Son với tâm hồn nhân hậu, thủy chung nghĩa tình với quê hương, với lời hẹn ước thuở nào, dám đương đầu với số phận éo le đã thể hiện khát vọng của bao người phụ nữ, của những con người thuần hậu phải chịu những đè nén, áp bức bất công trong xã hội cũ muốn bứt tung tất cả để được sống tự do, được yêu thương và gửi gắm những thâm tình.

Cấu trúc kịch bản Chèo “cô Son” gồm 6 cảnh, mỗi cảnh đều tạo được tích trò mang yếu tố tự sự có tính ước lệ rất cao đã thu gọn được tối đa sự rườm rà trong các câu chuyện kể, đồng thời lồng ghép vào đấy những bài học luân lý đạo đức rất hiệu quả và đặc sắc. Bằng nghệ thuật sân khấu mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc, Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ hiếm hoi đã tạo ra được nhiều cảm hứng cho những người yêu thích tác phẩm của ông. Những câu ca dao với khuôn mẫu lục bát rất tự do, phóng khoáng về câu chữ thấm đẫm hai yếu tố dân gian và bác học kết hợp miêu tả cuộc sống bình dị của người dân nông thôn đã làm nên nét riêng độc đáo khó lẫn trong vở chèo “Cô Son” của Nguyễn Bính.

Như một viên ngọc quý của nghệ thuật Sân khấu Chèo, vở chèo “Cô Son” từng được nhiều đoàn Chèo dựng diễn và đã gây tiếng vang, được công chúng yêu thích ở khắp cả nước. Đã có nhiều nữ nghệ sĩ hóa thân vai cô Son như: NSƯT Minh Toan, NSƯT Mai Hương, NSƯT Thu Huyền… với những màn diễn đầy nội tâm quyết liệt với thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. NSƯT Mai Hương đã chia sẻ khi đóng vai này. Chị như “nuốt từng lời văn trong kịch bản” bởi ngôn ngữ nhân vật giàu tính văn học và biểu cảm. Khi diễn cảnh được ngự hầu vua, Mai Hương đã rất thành công khi hóa thân người phụ nữ bao năm mòn mỏi đợi chờ, mỗi năm, mỗi tháng, mỗi mùa trăng trôi qua cùng là nỗi oan tình chôn chặt ngày xuân, để rồi khi gặp được đức Vua như nắng hạn gặp mưa rào cô Son như phá tung tất cả, dám bạo dạn để dứt khoát phải xem mặt vua. Sau màn dâng rượu, Mai Hương vai cô Son xót xa trong điệu “Chức cẩm hồi văn” thương cho kiếp phận mình và quyết bỏ dải lụa nhìn vua đã tạo được ấn tượng rất mạnh và xúc động, thể hiện nỗi đau giằng xé trong lòng chất chứa bao năm. Mai Hương đã lĩnh hội được tâm lý nhân vật để tải được ý tứ mà tác giả muốn gửi gắm về nỗi buồn đau, xót xa của phận người nông dân, đặc biệt là người phụ nữ phải gánh chịu sự đè nén, áp bức của nhiều thế lực cậy quyền, cậy thế của xã hội phong kiến. Mới đây, Nhà hát Chèo Hà Nội đã phục dựng thành công vở chèo cổ này trên sân khấu Thủ đô, một lần nữa, những giá trị nhân văn của tác phẩm đã tạo được sự đồng cảm và xúc động của đông đảo khán giả.

Cùng với sự liều lĩnh của cô Son là hành động từ quan để đến được với người mình yêu của Khóa Hồng. Từ một chàng trai nghèo nơi thôn dã, thân cô, thế yếu nên Khóa Hồng đành phải nén lòng để người yêu đi lấy vua mà trong lòng khôn nguôi vương vấn. Tình yêu đã giúp Khóa Hồng thêm ý chí và niềm tin trau dồi nghiên bút nuôi ý chí đỗ đạt thành tài. Khi cô Son được trả về quê, tình cảm của Khóa Hồng như được tiếp thêm sức mạnh. Bất chấp những nghiêm lệnh của triều đình và cả vinh hoa, Khóa Hồng đã quyết từ bỏ tất cả để được đến với người mình yêu sau bao năm chờ đợi và hi vọng.

Dù có phải vào tù ra tội
Chữ thuỷ chung sau trước vẫn đinh ninh

 Qua hành động và tâm lý nhân vật cô Son và Khóa Hồng, đã cho thấy tấm lòng nhân hậu của Nguyễn Bính trước những mảnh đời nhiều éo le, ngang trái. Giá trị nhân đạo về quyền con người đã được Nguyễn Bính gửi gắm trong vở chèo “Cô Son” đã thức tỉnh lương tri con người mọi thời đại, là tiếng nói đồng cảm với thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa không được quyền định đoạt cuộc đời mình, là ước mong về một cuộc sống hạnh phúc của con người.

Là nhà thơ của làng quê nên ngôn ngữ trong kịch bản Chèo “Cô Son” của Nguyễn Bính đậm chất quê với những câu thơ lục bát mang hình ảnh ngày hội làng Châu Yên dệt lụa chăn tằm, phiên chợ quê cùng những khăn điều quạt lụa, giấy trúc bút lông, rồi cả tiếng chuông ngân đêm trăng vằng vặc, tiếng rao “chiềng làng, chiềng chạ” của mõ làng. Trai gái trong làng đang vui hội mùa xuân trong “hoa đào nở rộ, ngõ trúc xanh rờn” thì hội làng phải tan sớm vì có lệnh vua cấm chợ, cấm đò. Nguyễn Bính sống ở đất Chèo nên ông thấm đẫm tính hài hước dân gian qua những làn điệu và những hình tượng nhân vật qua kịch bản Chèo “Cô Son”.

Mô típ của Chèo truyền thống đã được Nguyễn Bính sử dụng hiệu quả trong việc bắt đầu câu chuyện từ cảnh hội làng mùa xuân của vùng đồng bằng Bắc Bộ và dẫn dắt tới đề tài, tình tiết nội dung nhiều tích trò, mỗi lớp nhân vật đều đan xen cái hài, cái bi. Nguyễn Bính đã rất tài tình khi sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự trữ tình, nặng niềm hoài cổ:

“Ôi còn đâu bóng sâm cầm, Phật say làng Thụy
Đâu đàn thề Đồng cổ, đâu chợ đêm khán xuân
Còn đâu bến trúc Nghi Tàm
Rừng bàng Yên Thái - tiếng đàn hành cung”.

Cách xây dựng nhân vật đã rất tinh tế trong cách thể hiện ngôn ngữ đậm tính trữ tình nhưng cũng đầy kịch tính của tác giả Nguyễn Bính được thể hiện khá rõ nét qua cảnh đối thoại giữa cô Son và vua Minh Mệnh khi nàng được vua vời đến ngự hầu:

Son: Muôn tâu thánh thượng,
Đời thiếp đâu còn ngày sung sướng
Mười lăm năm trực phận phòng không
Mười lăm năm chẳng thấy mặt chồng
Nay được bệ hạ cho vời, mà đời thiếp vẫn tối tăm dằng dặc

Minh Mệnh: Mười lăm năm mới được ta cho vời còn là điều đại phúc
Nàng biết không: có những phi tần
Bước vào đây chết cả một thời xuân
Chẳng được một lần ta đoái tới
Nàng được thế này vì có đức cao vòi vọi
Của trẫm ban ra nên trời phật độ trì
Mưa móc đã gội nhuần nàng chớ trách ta chi

Son:   Muôn tâu thánh thượng!
Thần thiếp chẳng hề oán hận
Vì chẳng được vua vời
Thiếp chỉ đau thương cho sự thể tình người
Luống nhục nhã cho thân hoa, phận liễu

(Chức cẩm hồi văn): Nào ai biết cho lòng thần thiếp
Chốn thềm vàng chưa quên kiếp dâu tằm
Tò vò mười lăm năm
Thân thiếp bao nhiêu năm
Mây phủ ánh trăng rằm
Mối oan tình chôn chặt ngày xuân

Minh Mệnh: Nàng nói chi ta nghe không hiểu
Sao ta không tiếc liễu thương hoa
Phận nàng giờ như hạt mưa sa
Được may mắn lọt vào cung cấm
Màn the trướng gấm
Cửa rộng nhà cao
Mười lăm năm được buổi ngự hầu
Đáng lẽ phải vui lên mới phải.

Son:   Thân thiếp đây như hạt mưa rào
Buổi ngự hầu còn đâu nhụy thắm hoa đào
Dải lụa này ngăn cách trời cao
Gặp chồng trong chiêm bao
Thiếp như trong chiêm bao
Ôi! Đôi mắt hôm nào…
Bẽ bàng phận thiếp biết dường bao.

Minh Mệnh:
(cười bần tiện)
Nàng chẳng phải nhiều lời
Sắc đẹp của nàng đôi môi
Mà không cần nàng đôi mắt
Phải phải… Ta chỉ cần nàng đôi môi
Mà không cần nàng đôi mắt! (vừa nói vừa vuốt ve Son)

Son:  Dù phải tội, thần thiếp xin chịu tội
Xin bệ hạ cho thiếp được thấy mặt rồng (nàng hé lụa ra nhìn)

Minh Mệnh: (đứng dậy, đẩy nàng ra thét lớn)
Quân phản nghịch! Quân phản nghịch!
Nội giám đâu
Nội giám, trói ngay nó lại đem giam
Xuống lãnh cung, cho đòi bà Thượng Nghi. (Khi Thượng Nghị ra Minh Mạng nói tiếp: Thị Son cung phi ngang ngược
Dám phạm vào luật vua phép nước
Hé dải lụa đen nhìn trộm mặt ta
Án đã rõ ràng ghi tội không tha:


Sự tàn ác, hà khắc, đa nghi của vua Minh Mạng đã được bộc lộ rõ qua từng câu nói, hành động. Và tính cách, tâm lý nhân vật của cô Son cũng được đẩy lên cao trào trong tình huống này. Từ một cô thôn nữ trồng dâu dệt lụa hồn nhiên, sau 15 năm năm chịu đựng bao nỗi đắng cay buồn tủi đè nặng trong lòng khiến cô trở nên can trường, sắt đá dẫn tới hành động dám bỏ khăn lụa nhìn tỏ tường mặt vua. Hành động đó là sự liều lĩnh phá bỏ mọi lễ nghi ràng buộc, bất chấp tất cả những rào cản cường quyền, luật lệ. Đó cũng chính là sự phản kháng mạnh mẽ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đại diện cho bao số phận, bao con người dũng cảm chống lại sự đè nén bất công áp đặt của bạo ngược cường quyền với những hủ tục hà khắc.

 Với một tâm hồn và phong cách lung linh giữa mơ và thực, Nguyễn Bính đã ghi lại những bộ mặt ái ố trên diễn đàn chính trị sân khấu cuộc đời:

Hội làng đèn đuốc như sao
Đêm Chèo tiếng trống giáo đầu nổi lên
Mặt hoa quạt bướm che nghiêng
Bước ra cô nữ làm duyên đưa tình
Cùng trong chiếc chiếu giữa đình
Mà bao nhiêu cảnh nhiêu tình bày ra
Đương ngục thất hóa vườn hoa    
Buồng the trướng gấm hóa ra chiến trường....

Có thể nói, với ngôn ngữ bình dị, trong sáng, Nguyễn Bính đã để lại cho thi đàn thơ ca và nền nghệ thuật sân khấu Việt Nam những tác phẩm đậm hồn dân tộc với âm điệu ngũ cung da diết góp phần bảo tồn và phát huy truyền thống của nghệ thuật Chèo cổ, cũng như nền văn hóa nghệ thuật dân tộc Việt Nam. Mảnh đất thành Nam - quê hương Nguyễn Bính bao năm qua đã tự hào sản sinh một người con ưu tú với bút pháp thi ca và nghệ thuật sân khấu đậm nét truyền thống nhưng không kém phần dữ dội trong nội dung tư tưởng của tác phẩm. Do đó, việc các đơn vị nghệ thuật phục dựng lại những kịch bản chèo của Nguyễn Bính là việc làm có ý nghĩa thiết thực góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị độc đáo đó trong cuộc sống hôm nay.

Sinh thời Nguyễn Bính từng tha thiết “Con tằm vẫn kiếp con tằm vương tơ”, ông đã đi xa, nhưng những tác phẩm văn học và sân khấu của ông vẫn còn nguyên giá trị.

 NSND Lê Tiến Thọ
Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam

Ý kiến bạn đọc