Loading ...
.:: Sân Khấu Việt Nam ::.
Đang tải ...



         

Phong cách Lộng Chương vẫn đang còn sống…

04/07/2013 2:54:51 CH

Tôi không biết các tác giả, nhất là các đạo diễn và diễn viên, hồi trước Cách mạng tháng Tám, đã học nghề ra sao. Riêng thầy Lộng Chương thì tôi biết tương đối rõ.


Ngay từ thủa còn làm “ông phán” (điều chế viên phủ toàn quyền), thầy đã lao vào công việc sáng tác rất hăng say, với phóng sự - tiểu truyện HẦU THÁNH rất nổi tiếng.
Sau ngày quen biết, tôi thường đến nhà thầy, thấy trên kệ sách nhà thầy những cuốn sách dạy viết vở của Mounet, Moussinac, Corvin, Zéami,… trong đó, thầy đã dùng bút chì xanh đỏ, đanh dấu dọc, ngang với lối ghi “thử xem”, “để rồi xem” hoặc có chỗ đơn giản hơn, chỉ một dấu chấm than hoặc một dấu chấm hỏi.

Bên cạnh những sách dạy viết, thầy còn có cả bộ      nói về biểu diễn và đạo diễn như La vaudeviUe, Le theâtre au XIXe siecle, Le syst éme stanislouski,… Ngoài ra, còn có cuốn Notes D’un acteen soviétique của N. Tcherkasson, nhà xuất bản ngoại văn, Moskov, dày tới 250 trang, khổ 28 x 40, trong đó, không có trang nào không có những dòng bút chì xanh đỏ ghi dọc, ghi ngang, đậm đặc hơn các bộ sách trên.

Nhờ các sách đó, thầy đã vượt qua mọi trở ngại và vượt qua cả bản thân mình, thời đại mình để học nghề một cách thầm lặng; không cần đến thầy bà nào. Tuy vậy, nơi học chính mà thầy chăm chỉ dấn thân và là Trường Đời, bao gồm cả Kịch nói và Chèo.

Sau ngày giải phóng Thủ đô, thầy được giao phụ trách ban nghiên cứu Tuồng – Chèo từ khu Năm, khu Bốn ra đến khu Ba và khu Việt Bắc (Hà Nội là một phần của khu Ba). Bộ phận này gồm có các nhà thơ Trần Huyền Trân, Lưu Quang Thuận, Huyền Kiêu, và tôi, Hà Văn Cầu.

Ngay hôm gặp mặt đầu tiên, thầy nói với mọi anh em: 

Tất cả chúng ta, cứ mỗi phút sống là một phút chết, cái phút đó không bao giờ trở lại được, cho nên phải sống sao cho có ích cho nước cho dân đừng “chết một cách phí phạm”. Do đó, tôi đề nghị:

- Anh Trần Huyền Trân đi lo việc cải biên Quan Âm Thị Kính với Đoàn Chèo Trung ương.

- Anh Huyền Kiêu tiếp tục làm vở Vương – Quý – Lý Hương Hương theo tiểu thuyết của Lý Quý (Trung Quốc), do thầy Lộng Chương trực tiếp dàn dựng và tham gia đóng vai Cửu Thôi.

- Anh Lưu Quang Thuận lo hoàn thành vở Tấm Cám để Đoàn Chèo Trung ương có vở “gối đầu” sau Quan Âm Thị Kính.

Riêng tôi, Hà Văn Cầu, từ chối các phân công của thầy, vì lúc ấy, có nhà thơ đã từng viết về Bác:

Hồ Chí Minh,

Người lính già đã quyết chí hy sinh

Trong đầu óc non nớt của tôi, một người dám gọi Bác là “Người lính già” thì chắc phải là người có oai vọng trong làng văn thơ, nên tôi rất kính trọng ông. Ông bảo tôi: “chứ cậu tốt, cứ ngồi chép thơ cho mình cũng đủ nổi tiếng và có vị trí rồi, chẳng cần làm gì nữa…”

Thầy Lộng Chương bảo:

- Cậu đừng tự ti. Có nhớ hồi đầu Cách mạng, cậu thường biểu diễn nhai đầu kịch (théatre du boulevard): kịch vỉa hè), luôn luôn đứng ở ngoài đường, cãi nhau với một - vài anh chị em về chủ trương, chính sách để bà con qua đường tò mò, quây quanh để xem, rồi cậu đứng ra kết luận bằng đường lối của Đảng. Điều đó cho thấy hai vấn đề:

1. Cậu đủ sức quên mình để làm kịch không cần sân diễn, không cần kịch bản, chỉ dùng trí tuệ, ứng diễn trò như Chèo để câu khách.

2. Cậu là một tay cán bộ tuyên huấn, chí ít cũng là một tuyên truyền viên nắm được đường lối của Đảng, luôn luôn phát ngôn mang chất lý tính, làm thức dậy trước hết nhận thức của khối óc (rồi mới đến cảm tính), nó giúp cho con người phát hiện ra chân lý của sự sống và đem được chân lý đó đến cho mọi người là điều rất quý. Cần phát huy hơn nữa khả năng hiếm có ấy.

Rồi thầy phân công tôi vào thư viện khoa học tìm tòi các công trình viết về sân khấu để mỗi tháng hai lần, báo cáo và bình giá của bản thân về các công trình tìm được ở trong thư viện.

Thầy rất yêu sân khấu truyền thống cả Tuồng, Chèo và Cải lương,

Còn nhớ hồi kháng chiến chống Pháp, khi cụ Nguyễn Đình Nghi từ khu IV chạy ra khu III (do địch đánh khu IV), đồng chí Đặng Xuân Thiều, khu ủy viên, giao cho tôi đi theo cụ Nghi để học viết Chèo, tôi lại cho là Chèo “ê a”, nên trốn biệt vào Rừng Thông, thầy Lộng Chương phải đạp xe dưới bom đạn vào tìm  tôi, mắng cho một trận:

- Cậu dốt lắm! Người có lòng với nghề Tổ mà không học Chèo thì lấy gì làm “vốn” để cải biến kịch nói phát triển nhờ dựa vào Chèo.

Sau ngày giải phóng Thủ đô, trong vòng 3 năm (36 tháng) thầy viết nhiều chuyên luận về:

- Công tác chỉnh lý vở Quan Âm Thị Kính (hai lần)
- Về vở Cải lương Máu thắm đồng Nọc Nạn.
- Về vở Cải lương Hận Linh Giang (hai lần),
- Về vở Tuồng Sơn Hậu.
- Tuồng Đào tam Xuận loạn trào.
- Về vở Chèo Lưu Bình Dương Lễ.
- Về vở Chèo Trương Viên.
- Về vở Cải lương Nàng Ba Châu Long.
- Về vở Phụng Nghi Đình của dân ca.
- Về vở Chèo Tống Trân Cúc Hoa.
- Về vở Chèo ai mua hành tôi.
- Về vở dân ca Thoại Khanh Châu Tuấn.
- Về vở Thạch Sanh (chèo).

Về Kịch nói, mỗi khi thầy viết trên báo, bàn cãi về vấn đề gì, cũng đều đụng đến Chèo, ví dụ:

“Phong cách dân tộc phải tìm ở những hình thức nghệ thuật, biểu diễn cổ truyền dân tộc (…) Tôi tìm vào Chèo (…)  Chèo đã hấp dẫn rôi với tính lạc quan đặc biệt của Chèo.

Trong 36 tháng thầy đã 6 lần đề cập đến các vở Chèo cụ thể về 4 lần  đề cập đến Kịch nên học Chèo.

Tối 14/7/1956, một cuộc họp diễn ra tại nhà anh Ngọc Đĩnh, 96 Hàng Trống, Hà Nội. Không biết tự bao giờ thầy đã chuẩn bị sẵn một chương trình nghị sự với sơ đồ tóm tắt của Đoàn kịch sắp ra đời.

Sau một hồi trao đổi sôi nổi, có sự hiện diện  của Đồng chí Nguyễn Bắc, giám đốc Sở Văn hóa, Hội nghị đi đến kết luận: thành lập Đoàn kịch nói Mùa thu, do anh Ngô Huy Quang làm đoàn trưởng, phụ trách công tác chính trị và chịu trách nhiệm trước Sở.

Hai anh Ngọc Đĩnh và Việt Hồ, chịu trách nhiệm về chuyên môn. Tôi, Hà Văn  Cầu, chịu trách nhiệm về tổ chức và tuyên truyền.

Đoàn mỗi tháng sinh hoạt hai kỳ vào tối thứ bảy và tối thứ bảy (lần 3) hàng tháng.

Ngay tối đầu tiên, các anh Ngọc Đĩnh và Triệu Thành đã tóm tắt vở kịch Ông bà Rô den béc và kịch hài (La Peur) của G. Soria. Cuộc họp quyết định dựng La Peur.

Bận mải đến thế, nhưng thầy Lộng Chương vẫn tranh thủ những “thời gian chết” của mình đi tìm mua nhà làm trụ sở cho Hội. Sau nhiều ngày tìm tòi, anh mua được ngôi nhà 84 Nguyễn Du, Hà Nội để anh em Kịch nói, Tuồng, Chèo, Cải lương cùng ăn ở và sinh hoạt.

Chính ở nơi đó, trên lầu 2, anh Lưu Quang Thuận đã hoàn thành Tấm Cám và cũng ở đó, tôi đã có những báo cáo học thuật.

Sau này, do phải nhường lại cho Bộ Ngoại giao làm công tác chính trị, chúng tôi mới chuyển về 51 Trần Hưng Đạo đến bây giờ.

Hàng ngày, thầy làm việc tại trụ sở. Buổi tối, thầy ngồi với các nghệ nhân (đang tạm trú ở nhà thầy 47 Hàm Long) nghe các cụ nói về Chèo, đặc biệt về Hề Chèo, và xem những kịch bản do chị Hạc Đính (vợ anh Trần Huyền Trân) chép lời các nghệ nhân đọc theo trí nhớ để kiểm tra suy nghĩ của mình.

Hàng tuần, thứ sáu và thứ bảy, thầy dành thì giờ tiếp các bạn mới vào nghề, góp ý và hơn nữa, trực tiếp cầm bút sửa kịch bản cho đàn em không tiếc công sức.

Ngày chủ nhật, thầy viết báo, phần lớn bàn về sân khấu kịch học tập được gì ở  sân khấu dân tộc đặc biệt ở sân khấu Chèo. Một vài ví dụ:

- “Phong cách dân tộc phải tìm ở những hình thức nghệ thuật biểu diễn cổ truyền của dân tộc”. (Đọc trước giờ mở màn diễn “Quẫn” buổi đầu tiên). “Chèo đã hấp dẫn tôi với tinh thần lạc quan của Chèo”.

- Với sự giúp đỡ của một số bác nghệ nhân, thầy đã áp dụng phong cách biểu diễn Chèo vào một vai kịch, vao Orgon trong vở Tartuffe của Moline, do ông Vũ Đình Long chuyển thành câu chuyện Việt Nam lấy tên là Đạo diễn giả. Thầy sử dụng cái quạt giấy thật nhuần nhuyễn, thật Việt Nam đến mức nhà văn Nguyễn Tuân, một diễn viên  rất tài ba, phải dơ ngón tay cái lên, nói “Cự phách đấy!”.

Lại nhớ năm 1956, sau đợt học tập chính trị, anh chị em văn nghệ sĩ phải đi thực tế lao động, thầy được về Vũ Thư, Thái Bình đi cày. Tuy là làm công việc nặng nhọc, thầy vẫn sử dụng “thời gian chết” để góp phần đào tạo các tác giả cho địa phương trong đó có Trọng Khuê một cây bút đầu đàn của tỉnh và Thanh Long cùng Hồng Dương, những tác giả Chèo có hạng của tỉnh.

Đồng chí Vũ Văn Bính, Tỉnh ủy viên, Phó chủ tịch ủy ban tỉnh, biết thầy “hay tửu hay tăm” đã chỉ thị cho Sở tuyên truyền lúc ấy là phải tìm rượu gạo đích thực để thầy không bị ngộ độc rượu.

Một tối sáng trăng, thầy ngồi câu ở con ngòi Kiến Giang, thì có người đến hỏi: “Ông có phải ông Lộng Chương không? – Ông có cần mua các cột truyện Kịch không?”. Thầy hỏi: “Cốt truyện gì?”. Thầy ghi cả vào sổ tay dưới ánh trăng.

Người đó kể rất nhiều truyện. Và về sau này, Thầy dựng thành “Hỏi vợ” vì câu truyện chỉ đủ cho một màn, và do phù phép của thầy, truyện được chuyển thành bố cục Quiproquo. “Úng” cũng thế, thầy phải phù phép thêm để người phản đối hóa thành người đồng lõa để gây cười. Rồi yểm bùa trừ sâu cũng vậy…

Thầy thường đặt ra câu hỏi rồi lại tự trả lời để cuối cùng nhấn định sự cần thiết phải học tập truyền thống một cách có hệ thống mới có thể hình thức sân khấu Việt Nam hiện đại – ví dụ:

Thực tế người xem xoáy vào đâu là chính? Vào nội dung vở, kỹ thuật diễn xuất hay sự hấp dẫn của màu sắc. Hay cả, đôi mắt, đầu môi của diễn viên, của cái giọng nói lối vuốt dài chuyển xuống xàng xê hay vọng cổ?

Cuộc đời thầy rất cần một lực lượng đông đảo, chung lòng chung sức và chung lưng đấu cật, hoặc đứng sau thầy để cùng thúc đẩy nghệ thuật sân khấu dân tộc tiến lên.
Tiếc rằng cho đến nay vẫn vắng bóng lực lượng ấy.

Do đó, bài viết này xin dừng lại ở đây.

(Bài phát biểu của Hà Văn Cầu trong Lễ tưởng niệm 10 năm ngày mất Nhà viết kịch, Nhà văn, Đạo diễn Lộng Chương )
Ý kiến bạn đọc