Loading ...
.:: Sân Khấu Việt Nam ::.
Đang tải ...



         

Tổng kết nghệ thuật

18/11/2013 1:05:34 CH

Trước hết cho phép Tôi được thay mặt cho Hội đồng giám khảo Liên hoan Nghệ thuật Sân khấu Dù Kê Khmer Nam Bộ lần thứ nhất, 2013 được trình bày bản Tổng kết Nghệ thuật có tính chất, đánh giá, trao đổi, nhận xét,…

 và đồng thời cũng là đề xuất một số ý kiến có yếu tố nghề nghiệp qua 10 buổi thi diễn  đã được tiến hành tại Nhà hát Tổng hợp Trung tâm Văn hóa Sóc Trăng từ đêm 11 đến hết buổi sáng 16/11/2013 cùng với sự hiện diện của hàng trăm Nghệ nhân, Nghệ sĩ, Nhạc công, Công nhân kỹ  thuật của 3 Đơn vị Nghệ thuật công lập và 7 đơn vị được tổ chức và hoạt động theo mô hình khác nhau như: Trung tâm Văn hóa  tỉnh, Đội thông tin, đơn vị tập thể  thuộc doanh nghiệp tư nhân (xã hội hóa). Đặc biệt có một đội văn nghệ Khmer khoa Văn hóa nghệ thuật của Trường ĐH Trà Vinh.

Đây là lần đầu tiên các đơn vị nghệ thuật Dù kê Khmer Nam Bộ của 6 tỉnh, trừ có một vài đơn vị tuy có điều kiện nhưng chưa được sự  quan tâm tổ chức tham  dự Liên hoan lần này, thuộc khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, đã có được điều kiện và cơ hội nghề nghiệp để tụ hội trong không khí nghệ thuật, cùng nhau giới thiệu và dự  thi những vở diễn, tiết mục  tiêu biểu của đơn vị mình trước đồng nghiệp, lãnh đạo các cấp và Quí khán giả để tạo nên  thời điểm cùng nhìn lại “bức tranh toàn cảnh” của Nghệ thuật Sân khấu Dù Kê, Dì Kê Nam Bộ khi mà loại hình Ca kịch dân tộc độc đáo riêng biệt của chúng ta sẽ là  1 trong 12 di sản văn  hóa phi vật thể  Việt Nam ở mức độ và tầm cỡ nhân loại đang được Bộ VHTT và DL cùng các cơ quan hữu trách dự kiến lập hồ sơ trình UNESCO giai đoạn 2012 – 2016 để được công nhận về những giá  trị nghệ thuật đặc sắc, tính nhân văn, sức lan tỏa và lưu truyền trong đời sống cộng đồng của Dù Kê Khmer Nam  Bộ gần 100 năm ra  đời và phát triển.

Trong bản Tổng kết Nghệ thuật này -  chúng ta sẽ không đề cập đến nguồn gốc xuất sứ, quá trình thành lập và kết quả hoạt động của các Đoàn Nghệ thuật Dù Kê Khmer công lập, các Đội, Trung tâm, và các đơn vị  xã hội hóa,…

Mà bằng những gì được bộc lộ từ 10 vở diễn, đem đến Liên hoan.


Trung tâm văn hóa tỉnh Vĩnh Long với vở diễn "Vì một tình thương"

1. Về tính chất riêng biệt của thể loại trong nội dung câu chuyện và đề tài các  vở diễn.
Các vở hầu hết đều khai thác các  tích chuyện xưa từ trong các kho tàng văn học có tính truyền thuyết, huyền thoại, dân gian của Khmer Nam Bộ được nhìn nhận và phản ánh bằng cảm nhận nghệ thuật; cách khai thác về chủ đề, về tư tưởng và thẩm mỹ trong các mối tương quan  giữa Thiện và Ác, giữa cái đẹp và cái xấu – thậm chí là âm mưu, tội ác, sự phản bội và những bài học về nhận thức, cũng như giáo dục được đúc kết mang tính cảnh báo, đồng thời hướng đến những giá trị đẹp đẽ của Chân – Thiện – Mỹ.

Hiện thực cuộc sống đầy cam go và cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các tuyến ý thức, tuyến nhân vật từ xa xưa – đó là những con người đại  diện của một triều đình phong kiến, của một xã hội và một công đồng dân tộc cụ thể.

Đặc biệt có các loài thú tham dự vào sự  phát triển của tình huống sự kiện Sân khấu như Chằn, khỉ và các loài vật khác. Nhưng loài Chằn xuất hiện nhiều hơn (trong 4 vở) và chằn hiện than cho loại ác thú mưu mô, thủ đoạn, biến hóa, lừa lọc hảm hại con người dưới bộ mặt Hoàng tử, Công chúa… Chằn không chỉ bộc lộ dục vọng xấu xa, thậm chí còn tham vọng chiếm đoạt ngai vàng của con người. Nhưng lại có loài thú (Khỉ Hanumal) lại khát khao vươn đến những điều tốt đẹp của con người; trong khi đó thì chính con người lại đang vì những lợi ích nhỏ hẹp của gia triều, gia tộc, địa vị và thế lực xã hội, thậm chí là từng cá nhân với những tham vọng, quyền lực và  hám tiền dẫn đến nhiều  lúc lại đang tự xâm phạm, làm sai lệch đi vẻ đẹp của Con Người và sự cao thượng của tình người.

Và điều đáng  quan tâm cần khuyến cáo trong các vở diễn còn quá nhiều tính bạo lực và hành động tàn ác mất cả tính người; không đề  cao được tính nhân bản , lòng nhân ái giữa con người với con người. Đặc biệt cần lưu ý trong các vở diễn tuy khai thác  đề tài truyền thuyết, huyền thoại, dân gian, nhưng quan trọng phải mang tính hiện đại, từ chủ đề tư tưởng đến tính nghệ thuật với vai trò sáng tạo của Đạo diễn đồng thời phải có tác động đến đời sống hôm nay,  phải nêu được những tấm gương tốt để soi rọi, noi theo, và những bài học có ý nghĩa sâu sắc để suy ngẫm, cảnh báo, góp phần hướng công chúng đến Chân – Thiện – Mỹ.

Bức tranh về con người và  xã hội như xa xưa, huyền cổ đó… được các nghệ sĩ thể hiện và biểu cảm trong một nhận thức nồng nàn, trách nhiệm, khắc họa đến sâu lắng những nỗi đau của mẹ mất con phải dấn than vào tội ác trả thù, hoặc sự  áp chế đến độc đoán của quyền lực trong hôn nhân, trong chộp giật tình cảm vợ chồng, trong long tham đến khắc kỷ dẫn đến những cái chết bi thảm.

Có thể  khẳng định ngay là đề tài và nội dung đó là chính thống, là truyền  thống có tính học thuật của Sân khấu Dù Kê Khmer Nam Bộ gần 100 năm  nay và vẫn có tác dụng và  tác động đến hôm nay.


“Lưỡi kiếm oan nghiệp” của Đoàn NT Khmer Ánh Bình Minh, tỉnh Trà Vinh

2.  Về công tác Đạo diễn.
Công tác Đạo diễn được chú trọng trong từng vở diễn (tuy không phải đều đạt được kết quả như nhau).

Ở các đơn vị lớn, với các Đạo diễn có trình độ nghề nghiệp vững thì đã đạt được sự mạch lạc, khúc chiết trong “giải thích” kịch bản theo một định hướng tư tưởng thẩm mỹ trong tổ chức các tuyến xung đột hoặc các sự kiện để tạo ra sự hấp dẫn của “không khí” vở diễn, làm tiền đề  cho các nhân vật – nhất là các nhân vật có tình cảnh sầu muộn,  bi thương có được các lớp diễn sâu về tâm lý, bộc bạch được nỗi long sâu kín để từ đó mà cất lên những lời ca hay, ai oán và truyền cảm.

Hiệu quả của công tác “Dàn cảnh” của Đạo diễn cũng đã tạo  ra nhiều lớp Hài,  những nhân vật có tính cách khác thường trong điệu bộ, lời nói trở  thành duyên dáng – lấy được “tiếng cười” chân  thực và thoải mái nơi người xem; hoặc tạo ra các lớp diễn  căng thẳng của các tình huống đối lập, các lớp diễn đông người. Nhất là Đạo diễn giữ được cách thể hiện kế thừa truyền  thống biểu diễn nhân vật Chằn bằng vũ đạo, bằng cách ca diễn, cách thoại lời, hóa trang và sử dụng 2 nanh của Chằn khá độc đáo.
Việc sử dụng phát huy các bài bản trong Ca, trong mối tương quan của hình thức “dàn đế” bằng đối đáp lời hoặc đối thoại bằng âm nhạc cũng có những hiệu quả khác nhau, tạo nên  cảm giác có yếu tố đồng vọng, đồng cảm và được “nhân rộng” ra về hiệu ứng của tình huống và thủ pháp đạo diễn.

Công tác Đạo diễn cần chú ý xử lý về mặt tạo hình (midanxen) bố cục hài hòa các vai diễn  cho hợp lý tình huống và hiệu  quả nghệ thuật, lại có những tình huống áp đặt, kiêng cưỡng thiếu hợp lý, hạn chế hiệu quả vở diễn. Và còn có những sai xót sơ đẳng trong một số vở diễn: nhân vật ra vô tùy tiện, chuyển  lớp thiếu hợp lý hoặc trong rừng sâu lại có sẵn lửa, cơm cúng, nhang,… Về phục trang các nhân  vật Thủy tề chưa thể hiện đúng hoặc có một số phục trang không đúng tính cách tình huống nhân vật. Đặc biệt cần  chú trọng xây dựng giá trị nhân văn trong vở diễn, hạn chế cá nhân trả thù, hành động bạo lực dã man hoặc dùng cái chết để giải  quyết tội lỗi mang tính tiêu cực. Công tác Đạo diễn còn thể hiện ở chỗ xử lý trang trí có (hoặc còn ít) hiệu quả. Có cảnh trí như chỉ là vẽ lên,  để tạo nền mà chưa tham gia vào sự phát triển hành động.


Cảnh mở màn của "Hương sắc tình quê"

3. Về lực lượng Nghệ sĩ, Diễn viên trong các  vai diễn:
Đây là một vấn đề trọng tâm của lần Liên hoan này.

Bởi vì – đối với 3 đơn vị nghệ thuật công lập thì có được số lượng nhiều diễn viên  và nhạc công được đào tạo và có thâm  niên làm nghề, thì đó là một thuận lợi và chủ động khi dựng vở lớn.

Còn với các đơn vị nhỏ, lại có đơn vị mới được hình thành, trong đó có diễn viên – không chuyên nghiệp, chưa từng ca diễn trong một vở dài với những tình huống những xung đột và các tính cách nhân vật khác nhau lại bước lên Sân  khấu Liên hoan lần đầu, thì năng lực Ca, Múa, tạo  hình phần nào đó còn bị thiếu bản lĩnh, kém đi sự chủ động và sức truyền cảm.

Dù là thế thì trong một số vở diễn, trong từng buổi thi vẫn thấy lấp lánh một giọng ca hay, hoặc một bài bản -  làn điệu được trình bày một cách có nghề và thuyết phục đồng nghiệp cũng như người xem.

Việc xét tặng giải thưởng chủ yếu là dành cho Diễn  viên đó là sự  quan tâm  cần thiết với tình hình không phải chỉ cho loại hình của chúng ta, điều đó  đặt người  Diễn  viên  vào một vị trí được tôn trọng, nhưng phải đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản  nhất và tiến  đến  chất lượng cao – vì Diễn viên, chứ không phải ai khác – chính là lực lượng trung tâm đông đảo và trực tiếp nhất tạo nên hiệu quả sân khấu của vở diễn.

ở Liên hoan này chưa có được nhiều các Diễn viên “lý tưởng” đó – do công tác đào tạo kế thừa của chúng ta thiếu định hướng và chưa quyết tâm đầu tư, thiếu cả các điều kiện để được học chính quy, hoặc được bồi dưỡng nâng cao nghề nghiệp thường xuyên.


 "Vua Thần" trong vở diễn cùng tên của
Đoàn nghệ thuật tổng hợp Khmer tỉnh Bạc Liêu

4. Về thiết kế Mỹ thuật – Trang  trí sân khấu – Phục trang.

a. Toàn bộ cảnh trí dường như đều được vẽ theo phong cách tả thực với  sắc màu gần với tự nhiên  và đặc biệt là với một sự hòa sắc rực rỡ đến độ tuyệt đối. Chắc chắn đó là cả một quan điểm riêng biệt của thể loại mà câu chuyện kịch đều từ các  tích chuyện cổ, huyền thoại, có cả yếu tố thần thánh, ảo giác.

Riêng các cảnh cung đình đều có cách trang trí với họa tiết hoa văn của người Khmer Nam Bộ.

Các rặng cây, cây cổ thụ  với bộ rễ lớn và nhất là cây Thốt nốt được vẽ rất cầu kỳ, chi tiết,… khi có ánh sáng mầu hòa sắc vào thì tạo ra một “địa điểm hành động rất lung linh, tạo cho người xem cảm giác thích thú (bởi vì phong cách mỹ thuật phù hợp với tính chất của thể loại và nội dung).

(Điều cần trao đổi là cách sử dụng phần thiết kế mỹ thuật đó của Đạo diễn có hiệu  quả hay không khi đem tới cho nó “tính chất động” tham gia vào sự kiện và quá trình phát triển hành động của nhân vật hay chỉ là một “bức tranh đẹp nhưng ở trạng thái tĩnh và  chỉ đạt yêu cầu như “báo hiệu  địa điểm”).

Cũng còn đó một vài trang trí “rườm rà” quá nhiều chi tiết mà Đạo diễn không sử dụng hết.

b. Về phục trang của các nhân vật.
Phục trang – nhất là các nhân vật của Vương gia, gia tộc cấp cao, quan huyện,… đều  đẹp và rực rỡ; lấp lánh phản quang và được phân biệt rất rõ ở mầu sắc và chất liệu cao thấp khác nhau cho từng loại  nhân  vật.

Phục trang đa sắc như vậy đã không “bị lép” trên  nền của một trang trí cũng đã rất nhiều mầu sắc.
Có thiết kế mỹ thuật tạo ra cảm nhận về sự đồ sộ, hoành tráng – cho dù đều được vẽ bằng tay trên  vải với nhiều họa tiết và các chất màu phát sáng.


Phiên chợ làng quê bình yên của Mười Chưi trong "Hương sắc tình quê"

5.  Về âm nhạc.
Do đây là một thể loại Ca kịch dân gian truyền thống nên phần nhạc luôn giữ  được vai trò “hồn cốt” để làm nền và để cho các Ca  từ được vang lên trên các  bài bản  được chọn lựa theo tình huống  của từng vai diễn, đặc biệt phần đế rất hay.

Trong các vở diễn các  bài bản Dù kê, Dì kê được sử dụng tương đối hợp lý và được khai thác từ nguồn bài bản  có sự khác nhau, ít trùng lặp, trừ các bài quản.
Hầu hết các đơn vị đều giữ được bản sắc âm nhạc của loại hình Dù Kê Nam Bộ. Kể cả một số bài bản thuộc nhạc Tiều, Quảng du nhập vào nhưng cách thể hiện được biến hóa từ tấu nhạc đến cách ca gần gũi với âm nhạc Dù Kê.

Có đơn vị chỉ dùng 1 dàn nhạc dân  tộc.
Có đơn vị bổ sung thêm đàn Organ và  dàn trống Jaff.
Dù là có 2 thực tế đó thì hiệu quả về thanh âm hòa  điệu, phối khí,… đều “dễ nghe” mà không bị cảm giác làm mất đi tinh hoa âm sắc của âm nhạc Dù Kê Nam Bộ.
Từ đó mà nhiều tốp nhạc đã tạo cho diễn viên một nền  tảng niềm tin khi cất lên  tiếng hát.
Có cảm giác còn thiếu vắng các “chủ đề âm nhạc” xuyên suốt vở diễn mà chủ yếu là nhạc nền, tạo không khí và nhất là làm nên “quảng nghỉ” cần thiết lúc chuyển màn.



Nàng Đê Vi xinh đẹp trong vở diễn "Vua Thần"

6. Về Múa.
Động tác hình thể mang tính vũ  đạo mềm  mại và uyển chuyển là nét đẹp đặc trưng của vũ đạo của Dù Kê nhất là động tác bằng bàn tay, bàn chân trong từng bước đi, phù hợp với đối thoại và ca từ trong từng chi tiết, từng đoạn diễn.

Về múa trong những cảnh cung đình thể hiện những động tác mang tính biểu trưng của múa Khmer và mang đậm chất dân gian của Khmer Nam Bộ.

Hầu hết các Nghệ sĩ, Nghệ nhân, Diễn viên chuyên và không chuyên nghiệp đều bộc lộ được sự hài hòa một cách tự nhiên  trong tạo hình có yếu tố vũ đạo đặc trưng của thể loại.

Trên đây là những ý  kiến đánh giá từ thực tế của phần lớn các vở diễn trong Liên hoan của Hội  đồng giám  khảo. Cũng từ thực tế đó,  xin có một số điều  trao đổi với lãnh đạo các đơn vị và các bạn đồng nghiệp.

1.  Ở cuộc Liên hoan lần thứ nhất này, có thể do nhiều điều kiện và yếu tố khác nhau nên có một số  các vở đã được dàn dựng từ nhiều năm trước nay được “tái đầu tư” và phải tự cắt bớt đi một thời lượng nhất định để phù hợp với Quy chế. Do đó mà chúng ta không được thấy gương mặt thực sự của NTSK Dù  Kê của hôm nay. Có thể là nhuần nhuyễn nhưng tố chất sáng tạo mới thì lại không nhiều.

2. Muốn hay không thì vẫn có một quãng cách giữa Sân  khấu chuyên  nghiệp và Sân khấu phong trào nhằm mục  đích tuyên truyền  cổ động. Điều đó dễ nhận ra từ kinh phí đầu tư, từ lực lượng ít hay nhiều của Diễn viên và Nhạc công. Từ chất lượng chung có tính tổng thể và đặc biệt là sự khác nhau ở trình độ  thuộc về kỹ thuật  biểu diễn trong thoại  lời, và nhất là trong kỹ  thuật Ca và tạo hình cơ thể có yếu tố của vũ đạo.

3. Các đơn vị biểu diễn cần chú trọng trong toàn bộ vở diễn phải thể hiện  được tính nghệ thuật chuyên nghiệp cao, nhất là phần tổng hợp vở diễn.  Vai trò chỉ đạo của Đạo diễn từ biểu diễn của diễn viên phải nắm chắc hạt nhân, nhân vật, hành động xuyên suốt của vai diễn. Đảm bảo chủ đề tư tưởng và hình tượng vở diễn và Đạo diễn chú ý phối hợp hài hòa, nhuần nhuyễn các khâu: âm nhạc, trang trí, phục trang, đạo cụ, hóa trang, tiếng động, âm thanh, ánh sáng. Việc chuyển cảnh phải khoa học hợp lý, đúng tình huống. Diễn viên ra vào không thể tùy tiện, phải tuân  thủ không gian, hoàn cảnh quy định của nhân vật trong vở diễn.

4. Các lãnh đạo của Sở VHTTDL, Trung tâm Văn hóa cần phải chỉ đạo phúc khảo vở diễn từ nội dung đến nghệ thuật và  tính tổng hợp toàn bộ, phải đạt chất lượng nghệ thuật chuyên nghiệp.

Ngoài ra trong cơ chế thị trường nhiều tác động đến đời sống các cấp lãnh đạo và ban phụ trách các đơn vị cần quan tâm sâu sát đến đời sống tinh thần và vật chất  tạo cho lực lượng nghệ sĩ tham gia biểu diễn được yên  tâm, dốc hết sức lực tâm huyết cho sáng tạo nghệ thuật

5. Có 1 vở – chắc  chắn là có lẽ nhiệm vụ chính trị trong công tác tuyên truyền cổ động cần thiết ở địa phương nên  đã chọn đề tài  trong xã hội và cuộc sống đương đại. Có thể  nói là giữa nhiều vở về đề  tại  được lấy từ huyền  thoại, thì đề tài đương đại đang như thử một cuộc đi tìm cho Dù Kê một vị thế mới,. Cuộc thử nghiệm nào cũng đáng trân  trọng, cần động viên khuyến khích, và đồng thời  cũng phải cùng với thời gian và bản chất của thể loại lắng nghe thêm ý kiến của đồng nghiệp và các nhà chuyên môn và nhất là người xem với mức độ tiếp nhận của họ – khi đó sẽ là một thảo luận nghề nghiệp thú vị, còn với hôm nay – ở cuộc Liên hoan lần thứ nhất này thì cần cân  nhắc nhiều phía (với vở diễn “Vì một tình thương” của Trung tâm Văn hóa tỉnh Vĩnh Long, vẫn còn những mặt hạn chế về kịch bản dàn dựng).

6. Cần có một kế hoạch đào tạo và bổ sung các Diễn viên trẻ cho các đơn vị Nghệ thuật công lập; tăng cường nâng cấp và bồi dưỡng kiến  thức nghề nghiệp cho thành viên của các Trung tâm, các  Đội Dù  Kê.

Đặc biệt phải chú trọng đào tạo tác giả về biên kịch, đây là khâu quan  trọng để có nhiều kịch bản mới và đào tạo đội ngũ đạo diễn, nhạc sĩ, họa sĩ, biên đạo để đến Liên  hoan lần thứ Hai, cũng với cấp độ toàn quốc mà Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam đã có ý đảm nhận – khi đó sẽ có nhiều vở mới và lực lượng mới chuyên  nghiệp hơn, có thể thời gian 3 năm một lần cùng với yếu tố mới trong sự phát  triển – chứ không phải  chỉ là “tồn tại” như hiện nay.

7. Và cần chú trọng nghiên cứu sâu rộng để quảng bá sân khấu Dù Kê Nam Bộ không chỉ cho đồng bào Khmer mà cả đồng bào Kinh có thể thưởng thức như chuyển ngữ, thuyết minh và nhất là phổ cập thông tin đại chúng trên truyền hình. Quan tâm hơn nữa đến cơ chế chính sách, điều kiện, phương tiện biểu diễn cho sân khấu Dù kê Nam Bộ.


Cảnh trong vở “Cạm bẫy học đường’ của Đội Văn nghệ Khmer,
 Trường Đại học Trà Vinh

Về công việc của Hội đồng giám khảo:
Do tính chất đặc thù của thể loại nên cơ cấu Hội đồng có tới 3 chuyên gia về Dù Kê trong đó có một NSƯT là Nhạc sĩ; 1 Đạo diễn NSƯT, 1 Tác giả am hiểu về thể loại; 1 Họa sĩ có danh hiệu NSND thành tích về thiết kế Mỹ thuật và 1 Đạo diễn NSUT làm công tác đạo tạo diễn viên, Đạo diễn sân khấu.

Hội đồng đã thống nhất các nguyên  tắc theo Quy chế tổ chức và chấm điểm  đề xuất xét thưởng.

Cả Hội đồng đã xem đầy đủ các vở diễn, thận trong trong phát ngôn, cẩn trọng trong trao đổi, nhận xét. Phong cách làm việc là dân chủ; phân công người đề dẫn bước đầu để sau đó trao đổi bàn bạc trước khi cá nhân tự  chịu trách nhiệm về số điểm mình cho.

Hội đồng làm việc độc lập, không bị tác động bởi một áp lực nào ngoài chuyên môn; từng thành viên không được trao đổi và cho điểm vở diễn, diễn viên ở tác phẩm mà mình là thành phần sáng tạo hoặc là thành viên của đơn vị. Các thành viên  của Hội đồng đã đảm bảo được các quy định như: không tiếp xúc với lãnh đạo và thành viên của các Đơn vị  dự thi, không để lộ thông tin ra ngoài,…

Tóm lại: với trách nhiệm của mình, từng thành viên của Hội đồng giám khảo đã làm việc bằng năng lực và sự hiểu biết, cùng một thái độ đúng mực nhưng không căng cứng máy móc,… để có được những ý kiến đánh giá và kết quả phản ánh đúng thực tế của chất lượng nghệ thuật 10 vở  diễn  của Liên hoan.

Kính thưa Quí vị lãnh đạo, đại biểu khách mời và các Nghệ nhân, Nghệ sĩ, Diễn viên,… Cuộc Liên hoan Nghệ thuật Sân khấu Dù Kê Khmer Nam Bộ lần  thứ Nhất, 2013 đã đạt được những mục tiêu mà các cơ quan cấp cao và Ban Chỉ đạo đã đề ra và nhận được sự đồng thuận, ủng hộ của UBND, Sở VHTTDL và 10 đơn vị nghệ thuật của 6 tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long.

Cuộc Liên hoan có xét tặng giải thưởng cho một số các đối tượng đạt số điểm theo quy định. Số lượng giải thưởng chỉ có hạn  mức để đảm  bảo được giá trị thực sự – do đó sẽ chỉ có một số đối tượng nhất định được nhận sự tôn vinh nghề nghiệp.

Chúng ta hãy coi đó là: Niềm vui chung, thành tích nghệ thuật chung trong một thời điểm được cùng nhau tụ hội, thi tài với một thể loại sân khấu dân tộc độc đáo có bản sắc Khmer Nam Bộ riêng biệt đã có lịch sử gần 100 năm hình thành và phát triển và đang đi tới sự khẳng định cao ở cấp độ Quốc gia và Quốc  tế.

Mỗi người chúng ta – nhất là các nghệ nhân, bà con Khmer ở từng Phum, Sok và các đơn vị cơ sở đều là những thành  viên của cộng đồng đang ngày ngày giữ gìn cho sự tồn tại và làm cho Dù Kê, Dì Kê phát triển. Tinh thần và ý thức văn hóa đó thực sự đáng trân  trọng. (Do đó – nếu như chưa có được điều kiện để nhận giải thưởng trong Liên hoan này, thì đó cũng là một yếu tố để đòi hỏi một sự phấn đấu cao hơn cho một vở diễn, một Đạo diễn, một Diễn viên trong nhân vật của sân khấu trong tương lai, của kỳ Liên  hoan lần thứ Hai và các lần sau).

Có thể nói Liên hoan SK Dù kê lần thứ nhất nhằm để khảo sát nhìn lại tình hình hoạt động của các đơn vị Dù kê ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long có đông đảo đồng bào Khmer  sinh sống. Đồng thời phát hiện những mặt, mặt hạn chế với cách nhìn đồng bộ, toàn diện. Để từ đó hoạch định, tìm giải pháp định hướng đưa  SK Dù kê Nam Bộ phát triển vững mạnh, lan tỏa sâu rộng trong công chúng. Đó cũng là cơ sở giúp cho việc UNESCO công nhận những giá trị NT đặc sắc của Sân khấu Dù kê Nam Bộ.
Chúc cho Dù  Kê, Dì Kê của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ ngày càng phát triển về lực lượng, nâng cao về chất lượng, hiệu quả trong quảng bá. Và chúng ta rất mong sẽ nhận được sự quan tâm và  tạo điều kiện tốt hơn nhiều hơn về  các phương diện kể cả là định hướng, chính sách, sự đãi ngộ của các cơ quan Đảng, Chính phủ, lãnh đạo các  Tỉnh, thành phố, các Sở VHTTDL, các Trung tâm và các cá nhân, tập thể cho sự hoạt động trong phát triển của loại  hình sân khấu độc đáo mà chỉ đồng bào dân tộc Khmer anh em tại Nam Bộ của đất nước thống nhất  của chúng ta mới có.

NSƯT Ca Lê Hồng, Chủ tịch Ban giám khảo
Ý kiến bạn đọc
   
  
 
 
   
 
Tin đọc nhiều
Bình luận nhiều
60-nam-hoi-san-khau-sankhau.com.vn