Loading ...
.:: Sân Khấu Việt Nam ::.
Đang tải ...



         

Tổng kết nghệ thuật Cuộc thi tài năng trẻ diễn viên Sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc 2014

10/12/2014 10:44:30 SA

Thay mặt Hội đồng Giám khảo trình bầy bản Tổng kết học thuật Cuộc thi Tài năng trẻ diễn viên sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc năm 2014 được tổ chức tại Ninh Bình.

Chúng ta đã trình diễn và đã thưởng thức nhiều trích đoạn mà đa phần là những mảnh trò hay, mẫu mực của sân khấu chèo với những vai diễn đã trở thành bài học cho nhiều nghệ nhân, nghệ sỹ chèo:

5 nàng Xúy Vân giả dại, 7 cô Thị Mầu lên chùa, 3 chàng Lưu Bình cùng nàng Châu Long, 4 lão Thuyền chài cùng cô vợ trẻ, 4 cô Thị Nở cùng gã Chí Phèo…Ấy là chưa kể một chú Tuần Ty bị Đào Huế đánh ghen, một nàng Cúc Hoa bị cha ép duyên, một cậu cả Sứt đấu khẩu với bố, một Xã trưởng sai mẹ Đốp rao mõ, một cô Tấm gọi bống, một Ỷ Lan nhiếp chính, một Dương Vân Nga với tấm áo bào, một phù thủy sợ ma, một cha già kép hát trở về nghề tổ…một người vợ với đứa con nhỏ chờ chồng, một bà mẹ đau khổ cùng đứa con hoang thai, gặp lại người tình, người cha ruồng bỏ họ v...v...

Sự lựa chọn các tiết mục dự thi lần này, không hẹn mà nên, đã là sự chọn lựa chính xác nó dẫn các đoàn, các nhà hát, các nghệ sỹ, gặp nhau ở nơi hội tụ những tinh hoa của sân khấu chèo truyền thống để vừa gìn giữ tiếp thu, vừa phát huy sáng tạo, khiến cho cái nỗi lo âu mất Chèo nhạt nhòa đi, đến mức chỉ còn là mơ hồ, phảng phất mà thôi, để tăng lên cái điều mừng vui gìn giữ được chèo, chẳng những chỉ giữ gìn mà còn làm cho nó, nghệ thuật chèo sống động lên, sinh sắc lên ở thời đại chúng ta.

Điều đáng mừng hơn là đa số các thí sinh được xếp vào hàng ngũ diễn viên trẻ trên sân khấu dự thi lần này đã dám đương đầu, thử sức vóc các trích đoạn, các vai diễn liệt vào hàng khó nhất của diễn xuất chèo, thậm chí có vai diễn chẳng những chỉ đòi hỏi tài năng mà còn cả sức khỏe nữa. Nhà thơ Xuân Diệu sinh thời, khi xem Xúy Vân giả dại do nghệ sỹ Diễm Lộc diễn, đã nói rằng, ông vô cùng bái phục nữ nghệ sỹ này vì chị đã “nạo” - chữ dùng của Xuân Diệu - cả thân thể, đã “dốc” cả tình cảm, đã “lột” cả tâm hồn ra mà diễn, mà lao động sáng tạo. Trở lại với sân khấu cuộc thi tài năng của chúng ta: trường hợp các nghệ sỹ trẻ độc diễn vai Xúy Vân giả dại - dẫu chưa phải là mười phân vẹn mười, mà làm sao có được sự vẹn mười - mười phân, nhưng hầu hết các diễn viên trẻ đã hoàn thành vai diễn một cách trót lọt, xoa dịu được nỗi lo âu khiến cho giám khảo nhẹ cả người, và cái chính là gây được ấn tượng mạnh mẽ và xúc động thật sự cho khán giả. Thậm chí có vai diễn tiếp cận cấp độ xuất sắc.

Một trường hợp khác: vai Thị Mầu lên chùa. Nhìn chung ngần ấy cô Thị Mầu nhà ta đều được các diễn viên gái trẻ - có em rất trẻ, trẻ đến hồn nhiên, thơ dại - diễn tả, lột tả rõ nét cái lẳng lơ, cái khát khao, sự táo tợn, cả sự phá phách, liều lĩnh…trong cuộc ghẹo, cuộc “cưa” trai ngay giữa cửa Phật ... gây được sự thích thú cho khán giả. Thậm chí có em còn diễn tả được cả cái nét bi buồn xen kẽ cái nét hài hước của nhân vật Thị Mầu, khiến cho cô đào pha thiếu học thức, thừa lẳng lơ này trở thành một cô gái không tầm thường, không hời hợt, mà trở nên khác lạ, sâu sắc. Điều đó đã bổ sung cho hình tượng nhân vật thêm cái chất thẩm mỹ, cái đẹp, cái đáng yêu. Một trường hợp khác: ông lão Thuyền chài và cô vợ trẻ trên chiếc thuyền lênh đênh trên sóng nước cuộc đời và duyên phận - 4 ông lão Thuyền chài, mỗi người một dáng vẻ, một cung cách nhưng nhìn chung tất cả đều đã biết nắm lấy mái chèo, một đạo cụ quen thuộc mà theo nhiều nhà nghiên cứu là nguồn gốc định danh, thành danh cho nghệ thuật chèo, vâng, nắm lấy mái chèo không chỉ làm một đạo cụ đơn thuần, mà biến nó thành yếu tố ngôn ngữ thể hiện của nghệ thuật diễn xuất, biến nó thành chỗ dựa để diễn tả những xung động, đột biến trong tình huống kịch và tâm trạng nhân vật - để cho nhân vật nổi lên với cái văn hóa ứng xử - nói theo ngôn ngũ văn hóa học ngày nay - giữa con người và con người với những sự biến bất ngờ mà chân thật, chân thật mà bất ngờ, nhưng bao trùm lên tất cả là cái tình, cái nghĩa mà thiếu nó, vắng nó thì con người không sống nổi nữa. Nhân đây xin nói thêm, kẻo lát nữa sa đà vào nhiều ý, lắm điều của bản tổng kết này mà có thể quên: kho tàng nghệ thuật chèo Việt Nam trước kia sáng long lanh lên những viên ngọc, những mảnh trò hay, như ta đã biết, gần đây vào thập niên 80 của thế kỷ 20 lại có thêm mảnh trò Chôn sống hề già trong bộ ba chèo Bài ca giữ nước của Tào Mạt, và ngày nay, tại sân khấu Cuộc thi Tài năng trẻ diễn viên sân khấu Chèo toàn quốc - 2014 tại Ninh Bình lại có thêm mảnh trò hay Vợ chồng ông lão Thuyền chài. Đó chẳng phải là điều mừng cho việc gìn giữ và phát huy tinh hoa nghệ thuật chèo hay sao! Các trường hợp khác, như trường hợp Thị Nở với Chí Phèo bên bờ đê, mà Nam Cao tả là dưới ánh trăng, dưới những tàu lá chuối bị gió thổi tốc vào mà giãy lên đành đạch, hay trường hợp Thị Kính cắt râu chồng và những trường hợp khác, như sự kiện Lưu Bình kỳ ngộ với Châu Long ở quán Nghinh Hương hay kề sát nàng trong thư trai mà ánh trăng dọi vào song cửa…đều có thể nhận thấy những tia tài năng vụt sáng lên…Chẳng hạn nữ diễn viên trẻ đóng vai Thị Nở đã vừa diễn tả được cái ngoại hình kỳ dị của Thị, vừa lột tả được nỗi khát khao yêu đương hạnh phúc của người phụ nữ ở dưới đáy cái xã hội nông thôn dạo ấy, qua đó phần nào làm hiện lên cái nhân bản và nhất là cái đẹp của người phụ nữ khi muốn yêu và được yêu. Diễn tả hai nét trái ngược nhau đến 180 độ là xấu và đẹp, là hiện tượng và bản chất, là ngoại hình và nội tâm, là bề ngoài và bên trong của một nhân vật phụ nữ loại như, cỡ như Thị Nở phải nói là tài năng, hoặc ít nhất cũng là mầm mống tài năng của các diễn viên trẻ mà chúng ta có trách nhiệm chăm lo, vun đắp.

Khi đề cập đến diễn viên chèo nói riêng và diễn viên kịch hát dân tộc nói chung, người ta hay nhắc tới hai yếu tố thanh và sắc. Về thanh, cụ thể là về Hát thì vừa mừng lại vừa lo đấy. Mừng vì đa số các diễn viên trẻ đều đã thuộc làn điệu, đã hát được, thậm chí một số em đã hát hay, hát truyền cảm những làn điệu nổi tiếng và khó hát của chèo như Tình thư hạ vị, Sử chuyện, Bà chúa con cua…Có em ngâm liền 11 câu sử rầu rồi mới bắc cầu vào hát, mà ngâm vẫn từ tốn, hát vẫn ung dung. Đương nhiên là bên cạnh hát đơn ca, còn có sự hát đỡ của dàn đồng ca, điều mà xưa kia, trên chiếu chèo cổ, các cụ ta vẫn thường làm, và ngày nay trên sân khấu chèo hiện đại, chúng ta cũng thường làm. Hiện tượng đó là bình thường. Điều mừng nữa là nhiều diễn viên trẻ dự cuộc thi lần này đã có chất giọng tốt và đẹp, lại biết hát đúng và hay các làn điệu của chèo, kể cả một số làn điệu khó mà ngày xưa chỉ là chuyên dụng nhưng ngày nay đã được đa dụng hóa. Về sắc thì khỏi phải nói, không ít diễn viên, đa số là các đào trẻ, và một vài kép trẻ có khuôn mặt đẹp, da đã trắng, mắt lại to, sáng và long lanh đến lúng liếng. Chân tay, nhất là bàn tay với những ngón tay búp măng thon dài, mềm mại rất thuận lợi cho sự trình diễn các trình thức, vũ đạo chèo. Đến đây tôi xin phép các vị đại biểu, các khán giả để nói tới lời với các diễn viên - các bạn trẻ, rằng: còn một yếu tố quan trọng hơn cả đối với nghề diễn viên là yếu tố diễn xuất, mà trên sân khấu chèo thì yêu tố này gây sức ép thẩm mỹ lên tất cả các yếu tố khác: Đó là yếu tố diễn trong nói, nói lối và hát, diễn trong trình thức và vũ đạo - tóm lại là diễn trong cả trò nhời và trò diễn. Nhưng quan trọng nhất là sự hài hòa, nhuần nhuyễn giữa tất cả các yếu tố trên. Bởi thế cho nên, các mảnh trò hay và trở thành mực thước, trong đó các vai diễn trở thành vai mẫu…mới tập trung ở một số trích đoạn trở thành kinh điển mà các bạn trẻ đã lựa chọn để thi tài. Và điều đáng mừng là, mặc dù tách bạch ra thì ở các trích đoạn dự thi như Xúy Vân giả dại, Thị Mầu lên chùa và một số trích đoạn khác, có sự chênh lệch nào đó giữa các yếu tố trên, nhưng nhìn chung thì không ít diễn viên trẻ đã đạt được sự hài hòa giữa hát và múa, giữa múa hát và diễn xuất - để tạo nên hiệu quả nghệ thuật cho vai diễn, gây được ấn tượng và xúc động cho người xem, như tôi đã nói ở trên. Riêng ở trường hợp Xúy Vân giả dại thì tiếng cười điên ở các cung bậc khác nhau đã góp phần không nhỏ vào thành công của vai diễn. Nói riêng, có trường hợp diễn viên chưa ra vai, mới chỉ cất tiếng cười trong cánh gà thôi, mà giám khảo có vị đã nói nhỏ vào tai tôi: chết với con bé rồi!

Những ưu điểm, những thành công đáng ghi nhận của cuộc thi lần này cần phải được tiếp tục nêu lên, phân tích - bởi vì giới hạn của một bản tổng kết không cho phép đề cập đủ hết: mà biết thế nào là hết, là đủ. Có lẽ sau đây Cục Nghệ thuật biểu diễn, Hội Nghệ sỹ Sân khấu Việt Nam cần tổ chức ít nhất là một cuộc hội thảo để chúng ta có dịp trở lại lĩnh vực quan trọng này. Bây giờ tôi xin nêu lên một vài vấn đề gọi là tồn tại, dẫn đến nỗi lo của chúng ta về các cuộc thi chèo nói riêng, về thế hệ trẻ nghệ sỹ chèo nói chung.

Trước hết là chuyện muôn thuở: chuyện chọn tiết mục và chuyện thầy dạy, đạo diễn cho các tiết mục đó. Với nghệ thuật chèo nói riêng và nghệ thuật sân khấu kịch hát dân tộc nói chung, cần chọn lựa những tác phẩm có “đất” cho cả 4 yếu tố: nói, hát, trình thức và vũ đạo - những kịch bản có chứa đựng những sự biến có khả năng thôi thúc, vẫy gọi, các biện pháp diễn tả tự sự, trữ tình và xung đột dẫn tới cao trào của kịch. Nếu là kịch bản thiếu những điều kiện trên thì cần phải biên tập, thậm chí viết lại, viết thêm, như trường hợp kịch bản Vợ chồng Thuyền chài từ Nguyễn Đình Nghi đến Trần Đình Ngôn mà ta đã biết. Cũng cần phải biết “liệu cơm gắp mắm”, biết tùy sức của diễn viên trẻ đoàn mình mà chọn lựa kịch bản sao cho phù hợp. Như tôi từng nói nhiều lần, việc chọn lựa kịch bản không chính xác sẽ làm khổ diễn viên, làm khổ cả đoàn, cả nhà hát, làm khổ khán giả và đôi khi làm khổ cả lãnh đạo tỉnh, thành mình đấy. Việc tìm mời thầy dạy, đạo diễn cũng thế, tức là cũng rất quan trọng, đôi khi đến mức quyết định sự thành bại của tiết mục dự thi. Các diễn viên trẻ đa số còn ở đẳng cấp học trò, chưa có sự tự sáng tạo, thầy cô dạy thế nào, “đạo” thế nào, các em diễn thế. Thật tội nghiệp và rất thương khi thấy tận mắt một số trường hợp các em diễn không đạt, diễn sai, thậm chí diễn hỏng…không phải do khả năng, tài năng của các em, mà tại sự dạy bảo, đạo diễn của các thầy, các cô.

Việc nhận thức sâu sắc, thấu hiểu sâu xa kịch bản văn học nói chung, các nhân vật nói riêng mà các em diễn viên trẻ sẽ sắm vai để dự thi là việc phải đặc biệt quan tâm. Qua cuộc thi lần này, ta thấy rõ là có một số vai diễn không đạt, không hay, thậm chí còn gây nên sự phản cảm cho người xem, nhất là các vai tạm coi là phản diện thuộc môtip đào lệch, kép ngang..v..v.. chính là do sự hiểu biết không đến nơi đến chốn của các diễn viên về các vai mình sắm, đúng hơn là về hình tượng nhân vật mình diễn tả.
Sự ngây thơ đến hồn nhiên của các diễn viên trẻ đã làm nên cái chất xanh tươi, thú vị và cao hơn là cảm khoái của một số vai diễn trên sân khấu cuộc thi lần này. Nhưng hồn nhiên, thơ ngây đến tự nhiên dại dột thì đó lại là chuyện cấm kỵ đối với diễn viên chuyên nghiệp, dù là diễn viên trẻ. Chẳng hạn trường hợp diễn vai Thị Mầu, diễn viên có đôi mắt to đẹp như thế với khóe thu ba gợn sóng kinh thành nghĩa là khóe mắt làm nổi sóng lật đổ kinh thành như thế lại không biết sử dụng để diễn những cấp độ, sắc thái, cung cách khác nhau của cô đào lẳng trong cuộc ghẹo trai. Có đôi môi áng đào kiểm, đâm bông não chúng, nghĩa là có nụ cười làm não nề dân chúng như thế… lại không cười và liếc đối tượng “cưa” là Thầy tiểu mà cứ quay xuống khán phòng mà liếc, mà cười một cách vô cùng tự nhiên và thoải mái. Ô hay, đây có phải là ghẹo khán giả đâu mà là ghẹo Thầy tiểu cơ mà.

Vẫn nói về đôi mắt và tiếng cười. Chúng vô cùng đắc địa trong việc thể hiện cơn điên của Xúy Vân với hai cấp độ, từ giả đến thật, từ nửa tỉnh nửa điên, đến điên cuồng rồ dại với những trạng thái hồn khác nhau, từ đơn thô đến tinh vi. Hai cấp độ đó, những sắc thái đó được kết tinh, hội tụ ở đôi mắt và tiếng cười, những thứ gắn liền với nhân thân người diễn viên và trở thành yếu tố ngôn ngữ của nghệ thuật diễn xuất. Rất tiếc là một số em khi diễn cảnh Xúy Vân giả dại đã ít biết sử dụng, đúng hơn là không biết tận dụng đôi mắt và tiếng cười ấy. Các em cười nhiều lần, nhưng hầu như lần nào cũng na ná lần nào…thành ra tiếng cười không gây được hiệu quả cảm nhận khác nhau cho khán giả, cụ thể là không gây được cảm xúc lo âu và thương cảm, thậm chí đến đau lòng xé ruột cho khán giả, mà chỉ khiến khán giả mệt mỏi…

Về khâu Hát với 3 cấp độ từ nói thường đến nói lối rồi “gối” sang hát -trên sân khấu cuộc thi lần này cũng để lại những tỳ vết. Hiện tượng nói không rõ lời, nói to như hét, nói lối thì không theo giai điệu của nhạc tấu và nhất là không phù hợp với tiết tấu của ngoại cảnh và tâm trạng. Hát thì còn chênh, còn phô, nhất là còn không sáng, không rõ, thậm chí có em hát còn trật nhịp, cướp nhịp. Thật đáng lo, khi thấy một điệu Luyện 5 cung rất phổ biến của Chèo mà có em cũng hát không được. Kể cả một vài em đạt điểm cao cũng chưa phải là toàn bích, thậm chí còn có chỗ hát đuối, hát chênh…Về múa thì có nhiều điều phải bàn, nhưng đáng nói nhất là sự không ăn khớp, không hài hòa giữa đôi tay và đôi chân, nó làm mất đi cái uyển chuyển, nhẹ nhàng và cái đẹp hình thể của diễn viên, nhất là nó làm giảm mất sự hài hòa đến nhuần nhuyễn giữa hai chức năng trang trí minh họa và bộc lộ trạng thái tâm hồn. Cá biệt có em múa như trình diễn một điệu múa đơn thuần với những động tác giật cục…khiến người xem thấy mơ hồ phảng phất ẩn hiện một điệu múa rối…với những vòng lượn nhanh và hẹp khiến người xem chóng cả mặt.

Cuối cùng là yếu tố diễn, trong đó có sự ứng diễn theo ngẫu hứng, một đặc sản của nghệ thuật sân khấu dân gian. Xin các bạn diễn viên, nhất là diễn viên trẻ chớ nhầm ngẫu hứng với quên lời, để thay vào những nhời khác không phù hợp, thậm chí quên cả một trổ hát vô cùng quan trọng của lớp diễn, nó tạo nên bước chuyển biến đột ngột, nhưng hợp lý và sâu sắc trong trạng thái tâm hồn của nhân vật, như một nữ diễn viên trẻ diễn vai Thị Mầu đến tình tiết Để em đứng trước cửa chùa, em gọi thầy tiểu chả thưa em buồn…thì quên mất trổ hát Trúc xinh trúc mọc sân đình…Thật vô cùng đáng trách…Ngẫu hứng đây là ngẫu hứng trong diễn xuất. Trường hợp NSND Hoa Tâm khi diễn vai Thị Mầu ghẹo “cưa” thầy tiểu, ghẹo mãi mà thầy không xiêu, “cưa” mãi mà thầy không đổ, thậm chí thầy còn bỏ đi để Thị trơ lại với cái mõ. Điên tiết lên, giận cá chém thớt, Thị Mầu - Hoa Tâm vồ lấy cái dùi, tiện tay ném vào chiếc mõ. Nó kêu lên một tiếng “cốc” khô không khốc, và do cách ném như thế nào đó mà khi chiếc dùi rơi đập vào chiếc mõ, nó bất ngờ nảy cao lên rồi xoay tít trên không giữa cửa chùa, nơi không có chỗ cho dục vọng yêu đương trai gái, mà chỉ dành đất cho mõ, cho chuông, cho thế giới vô sắc dục, cho cả chiếc dùi dù có tung lên không trung xoay tít, cuối cùng cũng rơi xuống đất Phật.

Sau đó, một số chị em bắt chước NSND Hoa Tâm, mỗi khi diễn đến tình tiết ấy…thì cũng ném chiếc dùi vào chiếc mõ, nhưng nó xịt, không kêu lên và tung lên được, mà lăn quay ra. Vì sao thế nhỉ? Vì các vị Phật, trong đó có Phật bà Quan âm phù hộ lối diễn ngẫu hứng, sáng tạo, không độ trì lối diễn khuôn phép, cứng nhắc.

Vừa mới hôm nào tụ tập, giờ đây lại sắp chia tay. Sao mà thèm nghe lại một điệu Quân tử vu dịch đến thế. Ngày mai, ai về nhà nấy, mọi người lại bị cuốn vào trăm công, ngàn việc, mà có cảm hứng nhất là công việc làm chèo. Cuộc thi nào mà chả có vui có buồn, có được giải và không được giải. Nhưng chúng ta được một cái lớn là hội ngộ, tao ngộ nghệ sỹ, nó nuôi dưỡng trong ta cái cảm hứng sáng tạo, ở đây là cảm hứng chèo, ngọn nguồn sâu xa của thành công, hứa hẹn.

Xin cảm ơn và mong gặp lại ở cuộc thi lần sau.

PGS Tất Thắng - Chủ tịch Hội đồng Giám khảo
Ý kiến bạn đọc
Bình luận bản tổng kết
Một bản tổng kết ngoài khuôn thước, nhưng đọc rất thú vị. Có đánh giá tổng thể, có chi tiết minh họa. Tinh tế. Sâu sắc. Có khen chê, có gợi mở, định hướng. 
( Vũ Thị Tuyết Nhung )
   
  
 
 
   
 
60-nam-hoi-san-khau-sankhau.com.vn