Loading ...
.:: Sân Khấu Việt Nam ::.
Đang tải ...



         
Gửi cảm nhận của bạn: skviet1957@gmail.com

Kịch nói trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ

08/05/2015 2:53:07 CH

Người Nam Bộ với “văn hóa mở và động” nên luôn luôn đón nhận cái mới. Có lẽ vì thế mà chỉ trong một thời gian ngắn bén rễ, hàng loạt ban kịch lớn nhỏ đã ra đời tại vùng đất này.

Nam Bộ - nơi đầu tiên xuất hiện kịch nói

Ngày nay, phần lớn điều cho rằng sự kiện công diễn vở Chén thuốc độc của Vũ Đình Long vào 22/10/1921 tại Hà Nội được xem là sự kiện lịch sử và được cho là ngày đầu tiên công diễn vở kịch nói của người Việt. Nhưng thực tế thì có thể thấy rằng người Pháp khánh thành Nhà hát Lớn Hà Nội vào năm 1911 tức sau Nhà hát Lớn tại Sài Gòn cả chục năm (1900). Trước đó vào năm 1863 đã có các gánh hát Tây qua diễn tại Sài Gòn để giải sầu cho khách viễn chinh, ban sơ họ hát tại nhà của Thủy Sư Đề đốc tại nơi gọi là Công trường Đồng hồ (Place de l’Horloge) góc Tự Do và Nguyễn Du ngày nay, lúc ấy nhà thờ lớn chưa có. Như vậy có thể nói những đoàn kịch (kịch nói và nhạc kịch) của Pháp đã có mặt tại Sài Gòn sớm hơn cả Hà Nội, Hải Phòng. G.S Hoàng Như Mai đã nói về kịch nói tại Sài Gòn giai đoạn này như sau: “cái loại hình kịch nói (thoại kịch) được giới thiệu với người Sài Gòn từ những gánh hát Tây này, khi nhà hát Đô Thành được xây dựng thì hàng năm bọn Pháp lại đón các đoàn kịch sang diễn. Các công chức và thân hảo của Thành phố được mời đi xem”.

Cần phải nói thêm rằng từ năm 1907 tại Sài Gòn đã có ấn hành tờ Tạp chí Sân khấu (Saigon théâtre) giới thiệu, phê bình các vở diễn tại nhà hát Đô Thành, như vậy, tờ báo chuyên về nghệ thuật sân khấu đã ra đời đầu tiên tại vùng đất Sài Gòn. Năm 1918 Lê Quang Liêm (Đốc Phủ Bảy) cộng tác với ký giả Đặng Thúc Liêng cho công diễn vở kịch Hoàng tử Cảnh du Tây hay còn gọi là Gia Long tẩu quốc, đây là vở được viết theo lối văn biền ngẫu, được diễn theo cách nói lối, phong cách giống kịch cổ điển Pháp, và hoàn toàn không có ca nhạc gì trong đó cả (trước đó, diễn kịch thường hay kết hợp với ca nhạc) và là vở kịch có vẻ ca ngợi Đại Pháp. Năm 1933-1934 Lê Văn Đức (Jacques Lê Văn Đức) thành lập một đoàn kịch nói có tên là Đức Hoàng Hội, nhưng đoàn kịch tồn tại được không lâu. Báo Phụ nữ Tân văn ghi nhận “chẳng bao lâu người ta không nghe thấy tiếng Đức Hoàng Hội nữa. Kịch vừa sinh ra đó rồi mất liền đó. Thì ra người Nam mình ít ưa cái cách nói chuyện”. Tuy nhiên “nói là người Nam mình không ưa thì cũng chưa đúng lắm. Phải nói rằng: Nhu cầu xem hát của công chúng Sài Gòn đã được thỏa mãn bởi sân khấu Cải Lương, một loại hình ca kịch dân tộc hiện đại, sinh ra do nhu cầu cải cách của khán giả”. Có phải vì những lý do trên đây mà cho dù Gia Long tẩu quốc ra mắt (1918) trước cả sự kiện ra mắt vở Chén thuốc độc (1921) nhưng sau này khi nhắc đến vở kịch nói đầu tiên của người Việt thì người ta cũng chỉ nhắc đến vở Chén thuốc độc mà thôi?

Dấu ấn của sự thích ứng với văn hóa Nam bộ

Người Nam Bộ với “văn hóa mở và động” nên luôn luôn đón nhận cái mới. Có lẽ vì thế mà chỉ trong một thời gian ngắn bén rễ, hàng loạt ban kịch lớn nhỏ đã ra đời tại vùng đất này. Nếu như trước đây diễn kịch nói ở Sài Gòn chỉ là hình thức diễn tài tử, diễn chơi, và mục đích biểu diễn thường là làm từ thiện, diễn xong thì nhà ai nấy về, thì khi ban kịch Dân Nam ra đời đã như là một đoàn kịch chuyên nghiệp, qui tụ nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như: Anh Lân (sáng lập và điều hành), Vân Hùng, Hoàng Mai, Xuân Phát, Anh Sơn, Kim Cương, Túy Hoa, Túy Phượng, Tuyết Vân, Túy Hồng, Thu Cúc, Tường Vi... Đến năm 1959 số các ban kịch nói tham gia với đài Truyền hình đã lên đến 30 ban lớn nhỏ: Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Vũ Đức Duy, Gió Nam, Sống, Trường Thủy, Bạch Tường, Đen Trắng...lúc này kịch nói đã có nhiều nghệ sĩ lừng danh như: Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng và có những giáo sư, đạo diễn về kịch nghệ cũng lên sân khấu như: Mỹ Tín, Vũ Đức Duy, nhiều nghệ sĩ kịch nói cũng đã được khán giả ái mộ như: Túy Hoa, Kiều Hạnh, Bích Sơn, Mỹ Chi, Tú Trinh, Anh Lân, Vân Hùng, Huỳnh Thanh Trà, Ngọc Đức, Khả Năng, Xuân Phát, Hoàng Mai…

Giai đoạn 1954 -1970 hình thức Đại nhạc hội “ăn nên làm ra” (do thị hiếu của khán giả), nên nhiều ban kịch đã tổ chức diễn kịch ngắn xen trong các chương trình đại nhạc hội để “có đất sống”. Ngày 22/5/1975, đoàn Kịch nói Nam Bộ từ miền Bắc về và sau đó một thời gian nhiều đoàn nghệ thuật hoạt động trên lĩnh vực kịch nói chuyên nghiệp, các nhóm kịch, các tụ điểm diễn kịch cũng ra đời như: Đoàn Nghệ thuật Sân Khấu Trẻ (Đoàn Kịch trẻ), Sân khấu Hài 135 Hai Bà Trưng, Sân khấu Kịch Sài Gòn, Sân khấu Kịch Idicaf,… đặc biệt là sự ra đời của CLB Sân Khấu Thể Nghiệm 5B với phong cách “Sân khấu nhỏ” và với hướng đi riêng về sân khấu thể nghiệm, đây chính là nhà hát Xã hội hóa đầu tiên của sân khấu cả nước. Như vậy có thể thấy, chính kịch nói tại Sài Gòn-TPHCM đã có sự thích ứng rất nhanh nhạy với thời cuộc và khả năng nắm bắt nhu cầu thị hiếu của khán giả.

Chính trên nền tảng văn hóa Nam Bộ đã góp phần tạo nên một thương hiệu Kịch Kim Cương không thể lẫn lộn vào đâu được. Với những vở diễn Tôi là mẹ, Trà hoa nữ, Nước mắt con tôi,  Sắc hoa màu nhớ, Vùng bóng tối, Cuối đường hạnh phúc, Người nuôi hy vọng, Khát sống, Huyền thoại mẹ…đặc biệt hai vở Lá sầu riêng (Duyên kiếp lỡ làng), Dưới hai màu áo (Ai là vợ) đã mê hoặc khán giả xem kịch kể cả trước năm 1975 và cả những năm sau này. GS.TS Trần Văn Khê đã nhận xét về nghệ thuật kịch của Kim Cương: “Tôi đã từng xem Trà hoa nữ ở Pháp, do người Pháp diễn, nhưng khi xem đoạn Kim Cương diễn cô vũ nữ đối thoại với cha của người yêu, mới thấy những phát hiện tâm lý của Kim Cương quả là tài tình. … Kim Cương đã Việt Nam hóa kịch nước ngoài, làm giàu cho kịch nghệ Việt Nam”.

Cuộc sống ngày càng hối hả, nhiều người không có đủ thời gian để bước vào rạp hát ngồi xem hết một vở kịch dài thì Đất Sài Gòn - TPHCM là nơi đã xuất hiện loại hình Kịch cà phê giúp họ vừa giải trí vừa thư giãn theo “gu” của mình. Khi phong trào phim kinh dị, phim ma của phương Tây hút khán giả thì những người làm kịch nói ở Nam bộ đã nhanh chóng cho ra lò loại “kịch ma- kịch có yếu tố kinh dị” và lại gây nên hiện tượng sốt vé. Cũng chính những khán giả này hiện nay đã tự biết sàn lọc mình nên xem cái gì? ở đâu? và vì thế kịch ma cũng không còn đất để mà “hot” như xưa nữa.

Tin chắc rằng, trong giai đoạn khó khăn hiện nay thì kịch nói tại TPHCM nói riêng và Nam bộ nói chung sẽ lại có những điều chỉnh để tiếp tục mang đến những dấu ấn mới, xứng đáng là nơi “đi trước về trước” của kịch nói Việt Nam.

Huỳnh Công Duẩn / Tạp chí SK

Tài liệu tham khảo
1.Trần Trọng Đăng Đàn (1989), về sân khấu, văn học, điện ảnh, ca nhạc…và về đời sống văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn Nghệ Tp.Hồ Chí Minh.
2.Trần Trọng Đăng Đàn (1998), 23 năm cuối của 300 văn hóa, nghệ thuật Sài gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn Nghệ.
3. Phan Kế Hoành - Huỳnh Lý (1978), Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám), Nxb văn hóa, Hà Nội.
4. Vương Hồng Sển (2004), Sài Gòn Năm xưa, Nxb Tổng hợp Đồng Nai
5. Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên (1998) Địa chí văn hóa Tp.Hồ Chí Minh, tập III: Nghệ thuật, xnb Thành Phố Hồ Chí Minh.
6. Trịnh Văn (1961), “Nền ca - kịch cải - lương đã đi đến đâu”, Văn Đàn,  3, 4 (Số 22), Tr.12-13, 27.
7. Đình Quang (2005), Về sân khấu Việt Nam (tập I), Nxb Văn hóa Thông tin - Hà Nội.
8. Trọng Nam (1936),Tình hình kịch trường trong Nam vừa qua, Kịch bóng. (Số 12), Tr.16 - 18.   
9. Nguyên Lộc (1961), “Vài nhận xét về tình hình thoại kịch”, Văn Đàn, (số 6), tr.1,15.
Ý kiến bạn đọc
   
  
 
 
   
 
 
60-nam-hoi-san-khau-sankhau.com.vn