Loading ...
.:: Sân Khấu Việt Nam ::.
Đang tải ...



         
Gửi cảm nhận của bạn: skviet1957@gmail.com

Kịch hát dân tộc: Khơi nguồn nhân lực từ đâu?

03/12/2017 11:24:42 CH

Một vĩ nhân phương Tây từng phán, ngắn gọn: “Bánh mỳ trước đã, rồi triết học sau”. Khỏi phải nói, đó là chân lý, ít nhất, là chân lý của cái thời điểm mà nhu cầu về sự tồn tại vật chất của con người đã trở nên cực kỳ bức thiết, nó được đẩy lên đến tột cùng và áp chế mọi thứ nhu cầu tinh thần khác


 Một lớp diễn viên Chèo của Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội.

Thực tế của nhiều năm trở lại đây cho thấy, các trường đại học nghiêng về nghiên cứu cơ bản và các ngành đào tạo thuộc khối Khoa học xã hội & nhân văn đã mất đi rất nhiều sức hấp dẫn với thí sinh nói chung. Nhưng thế cũng chưa thấm vào đâu nếu đặt cạnh ngành đào tạo các loại hình kịch hát dân tộc như tuồng, chèo, và cải lương, cụ thể là đào tạo diễn viên và nhạc công kịch hát dân tộc. Từ đấy có thể nói mà không sợ quá, rằng thiếu hụt nguồn nhân lực biểu diễn là nguy cơ có thật, và nó đang sầm sập kéo đến qua việc tuyển sinh ở một địa chỉ đào tạo lớn của nền nghệ thuật kịch hát dân tộc Việt Nam, tức trường Đại học Sân khấu & điện ảnh Hà Nội.  

Ông hiệu trưởng nhà trường (PGS, TS Nguyễn Đình Thi) đã rầu rầu nét mặt khi cho biết thông tin: từ những năm 2005, 2006 đến nay, mỗi năm, trước mùa tuyển sinh, khoa Kịch hát dân tộc của trường thường đặt chỉ tiêu lấy vào là 15 thí sinh cho mỗi lớp (diễn viên tuồng, diễn viên chèo, diễn viên cải lương, nhạc công dân tộc). Nhưng số thí sinh đăng ký dự thi vào diễn viên chèo và diễn viên cải lương lại chỉ dao động từ 10 đến 12, riêng diễn viên tuồng thì 5 năm nay tuyệt không có thí sinh nào. (Trong khi số thí sinh đăng ký dự thi diễn viên khoa Điện ảnh & truyền hình thì… gạt đi không hết). Còn nhạc công, đã gần 15 năm khoa Kịch hát dân tộc của trường Đại học Sân khấu & điện ảnh Hà Nội hoạt động trong cảnh không có học sinh để dạy. Không khó để lý giải cái thực tế đáng buồn này. Ở thời buổi người khôn việc hiếm như hiện nay, câu hỏi: “Học cái gì, để rồi sau đó làm cái gì?” đã trở thành câu hỏi đầu tiên, và là câu hỏi thường trực, với mỗi thí sinh khi phải quyết định cánh cổng trường đại học hoặc ngành nghề đào tạo cho mình. Học biểu diễn kịch hát dân tộc tức là học cái nghề đòi hỏi rất nhiều: thanh, sắc, năng khiếu, niềm đam mê, ý chí khổ luyện.

Phải đổ mồ hôi phải sôi nước mắt trên sàn tập thì may ra mới có cơ hội thành nghề và được đứng dưới ánh đèn sân khấu mà thổ tận can tràng trước người mộ điệu. Ấy thế nhưng đó lại là cái nghề không mấy hứa hẹn sẽ mang lại cho người theo nó một công việc có thu nhập cao và nhanh chóng mọc mũi sủi tăm trong con mắt thiên hạ. (Đây là sự thật trần trụi chứ không phải lo lắng tưởng tượng: tiền bạc thế nào chưa biết, nhưng về sự nổi danh, nghệ sỹ hàng “sao” của kịch hát dân tộc còn lâu mới đọ được với các “sao” ca nhạc hoặc “sao” điện ảnh, truyền hình. Còn thì, phần đông trong số họ chỉ là những ông hoàng bà chúa khi đứng trên sân khấu, rời sân khấu là họ lập tức phải bạc mặt với đủ thứ công việc làm thêm, để sống được). Thậm chí, dù đã gạt những nhu cầu vật chất và nhu cầu khẳng định tên tuổi (rất chính đáng) sang một bên, coi như không vướng bận, chỉ còn có khát khao làm nghề và làm nghề, thì mọi chuyện vẫn đầy khó khăn: biên chế ở các đơn vị nghệ thuật kịch hát truyền thống là một con số hữu hạn, không dễ mà thêm vào, và vai diễn – cơ hội để người nghệ sỹ được đứng trên sân khấu – lại càng ít ỏi hơn nữa, vì lượng vở mới được dựng hàng năm của các nhà hát kịch hát dân tộc đang cứ dần đều co lại như miếng da lừa của Balzac.

Tóm lại, một cách tất nhiên, những điều đó đã dựng lên cả một chiến lũy đầy thách thức trước tình yêu kịch hát dân tộc của các thí sinh trẻ tuổi. Chúng buộc các em (và gia đình các em) phải lựa chọn. Và như đã thấy, chúng đã chiến thắng trong đa số trường hợp: thí sinh đăng ký dự thi vào kịch hát dân tộc cứ ngày một thưa thớt dần, thưa đến mức có lẽ đủ gây men chán nản cho chính những người dạy. (Khi được hỏi, nhiều “mầm non” kịch hát dân tộc đầy tiềm năng đã, sau một vài ngập ngừng cho phải phép, trả lời thẳng băng: hát tếu táo cho vui vài câu thì được, còn đi học để trở thành nghệ sỹ tuồng/ chèo/ cải lương nhà nghề, thì không, dứt khoát không!). 

Thế mà, kịch hát dân tộc thì vốn vẫn luôn được nhà nước coi như là những giá trị vô giá trong kho tàng nghệ thuật truyền thống, là cái mang đậm đà bản sắc văn hóa Việt Nam, tóm lại, là cái không thể để bị mai một vì bất cứ lý do gì. Vậy, là sao? Ta hãy thử băn khoăn vài phút trước một câu hỏi mang tính bản thể luận: kịch hát là gì? Là nghệ thuật biểu diễn, hẳn thế. Mà với nghệ thuật biểu diễn, thì người biểu diễn (diễn viên, nhạc công) chính là yếu tố sống còn. Khi sự tiếp nối giữa các thế hệ người biểu diễn bị đứt đoạn, khi không còn người biểu diễn cho một nghệ thuật biểu diễn nào đó, coi như nghệ thuật ấy đã bị khai tử. Vậy nên, trước mối lo không còn là lo hão này, năm học 2014 – 2015, Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch đã đồng ý triển khai thực hiện dự án đào tạo nguồn nhân lực biểu diễn bổ sung cho các nhà hát Tuồng Việt Nam, nhà hát Chèo Việt Nam, nhà hát Cải lương Việt Nam. Theo đó, các nhà hát phối hợp với trường Đại học Sân khấu & điện ảnh Hà Nội tỏa ra khắp các vùng miền, xuống tận các làng quê để tuyển sinh. Đề nghị. Mời mọc. Thuyết phục. Hứa hẹn. Khuyến khích…

Các thầy ra sức trổ tài Tô Tần, Trương Nghi. Học sinh tuyển về được đào tạo là để trở thành, và phải trở thành, diễn viên hoặc nhạc công cho các nhà hát sau khi ra trường. Bởi thế, các em được bố trí nơi ăn chốn ở tươm tất trong ký túc xá của nhà trường, được hưởng những chính sách ưu đãi đặc biệt để yên tâm theo học, và được đích thân những nghệ sỹ gạo cội của các nhà hát hàng ngày lên lớp truyền nghề. Đào tạo theo cách này là đào tạo có địa chỉ, mang tính mục đích rất cụ thể. Nên cũng dễ hiểu vì sao trong thời gian mấy năm qua, các lớp học mở ra từ dự án đã vận hành khá tốt, cả thầy và trò đều hết sức cố gắng, và hiệu quả học tập đạt được đến nay, theo đánh giá của PGS, TS Nguyễn Đình Thi, là rất đáng phấn khởi.


Diễn viên cải lương là 1 trong những chuyên ngành
của Khoa kịch hát dân tộc ĐH SK&ĐA TP HCM.

Nhưng làm được như vậy liệu đã dứt các mối lo? Chắc chắn là không. Vì, thứ nhất, Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch chưa hề có ý kiến xác quyết về tính liên tục  của các dự án đào tạo nguồn nhân lực biểu diễn kịch hát dân tộc như thế này. Dường như, cơ quan quản lý văn hóa mới chỉ nhìn thấy ở đây một giải pháp tình thế, chứ chưa phải là một chủ trương, một chiến lược lâu dài. Thứ hai, như nhiều nhà nghiên cứu trong khá nhiều hội thảo, hội nghị lớn nhỏ đã từng bàn: khúc mắc lớn nhất của kịch hát dân tộc Việt Nam đương đại nói chung, hóa ra, chính là nằm ở yếu tố khán giả. Thiếu vắng khán giả, thậm chí không có khán giả - mà đây đang là thực tế nhãn tiền - thì diễn viên và nhạc công kịch hát dân tộc có được đào tạo kỹ lưỡng, tinh thục đến đâu cũng là vô nghĩa (hát/ diễn cho ai nghe, ai xem?).

Hơn nữa, nếu nhìn nhận khán giả không chỉ như là kênh tiếp nhận, mà còn là nguồn nhân lực biểu diễn tiềm năng của kịch hát dân tộc, thì quả thực chúng ta vẫn còn chưa chủ động, thậm chí chưa… cử động, trong việc “đào tạo khán giả” (chữ của K. Marx). Xin lấy một ví dụ để làm sáng tỏ luận điểm này: cách đây hơn mười năm có một dự án mang tên là “Sân khấu học đường” được triển khai trên toàn quốc. Theo đó, các nhà hát kịch hát dân tộc cử nghệ sỹ của mình đến các trường phổ thông trên cùng địa bàn, để biểu diễn cho học sinh thưởng thức, giảng giải cho các em hiểu, khơi gợi cho các em yêu thích, hướng dẫn cho các em tập theo, nhen nhóm cho các em niềm say mê trước những cái hay, cái đẹp, cái độc đáo đặc dị của nghệ thuật kịch hát dân tộc Việt Nam. Cả một phong trào được dấy lên, rất có khí thế, đi đến đâu cũng thấy các đào kép còn chưa vỡ giọng đã mê mẩn sắm vai “Thị Mầu lên chùa” hay “Hồ Nguyệt Cô hóa cáo”.

Thế nhưng, chớ nên quên rằng dự án “Sân khấu học đường” là dự án được vận hành bằng tiền tài trợ của quỹ Ford. Nghĩa là “Tây” nó bỏ tiền của nó để cho “Ta” làm cái việc “bảo tồn và phát huy” di sản văn hóa truyền thống của chính mình. Éo le thay, khi dự án này chấm dứt (chừng vài năm trước) đã không hề có một sự tiếp tục nào nữa từ phía “Ta”. Nguồn nhiệt mà “Sân khấu học đường” tạo ra được, đã đang trên đà ngụm tắt. Ai biết? 

Phải làm sao để khán giả của cái thời hiện đại vốn thừa mứa smartphone và mênh mông facebook này hiểu, yêu thích, thậm chí đắm đuối tự hào với nền nghệ thuật kịch hát dân tộc, thì mới mong từ trong khán giả sẽ có những người trẻ tuổi đam mê theo học và sẵn sàng đặt cược đời mình vào sự tồn vong của tuồng, chèo hoặc cải lương. Khi chưa thực hiện được điều căn bản ấy, xin hiểu cho, nghĩa là vẫn còn nguyên đó những mối lo… 

Trân Khanh / daidoanket.vn
Ý kiến bạn đọc
   
  
 
 
   
 
Nội dung khác
 
60-nam-hoi-san-khau-sankhau.com.vn